Đá opal có các màu của những loại đá quý khác gộp lại. Nên có hiệu ứng lóe màu sặc sỡ, nó được tạo ra do nhiễu xạ bên trong đá: các cầu thể li ti nằm trong đá làm tách ánh sáng thành các màu phổ tán sắc ngời sáng, giống hệt hiện tượng màu sặc sỡ do các rãnh cực nhỏ trên các đĩa CD gây ra.

Đá Opal được biết đến từ rất lâu và ngày xưa chúng chủ yếu được sử dụng làm vật liệu trang trí trong các đền đài và cung điện, bên cạnh đó một khối lượng lớn được sử dụng làm đồ trang sức. Ngày nay đá opal được xem như một món đồ trang sức có giá trị cao, nhiều khi quý hơn cả kim cương và hồng ngọc. Đá Opal là biểu tượng của chòm sao Song ngư trong cung hoàng đạo.

Đá Opal màu đỏ

-Đá Opal nhiều khi đọng trong các suối nhiệt dịch và suối phun ở các khu vực núi lửa (tup silit, greyserit…), đôi khi thành những thạch nhũ trắng, trong suốt, có quang thái ngọc. Opal cũng thường liên quan tới các loại đá macma phun trào như ryolit, andezit và trachit trong đó opal thường được lắng đọng trong các lỗ hổng ở nhiệt độ thấp. Ở Úc thường gặp đá opan liên quan tới phun trào trachit và bazan, trong cát kết silic ở đó đá opal được tái lắng đọng. Ở Việt Nam đá Opal gặp chủ yếu là opal thường tại một số tỉnh Tây Nguyên. Chất lượng của loại đá opal này không thích hợp cho việc sản xuất hàng trang sức, chỉ để làm tranh đá quý.

-Đá Opal là một trong các đá mừng sinh nhật trong tháng 10 ở Mỹ.

Đá Opal ra làm 2 loại dựa vào đặc điểm của chúng là opan quý và opan thường:

Đá Opal quý:

Đặc trưng nổi bật của loại đá opal này là hiệu ứng lưỡng sắc opan (opalescence) tức là khi ta quan sát viên đá ở các hướng khác nhau sẽ thấy hiện tượng như cầu vồng xuất hiện trên bề mặt viên đá. Đá Opal quý được khai thác nhiều ở Úc, tại các vùng New South Wales và Queensland, một số khác cũng được khai thác ở Brasil, Nhật Bản…

Đá Opal thường:

Là loại đá opal khá phổ biến và không có các hiệu ứng màu như ở đá opal quý và chúng mang một số loại tên khác nhau trên thương trường như: agat, hyalit (không màu, trong), opal mật ong khi chúng có màu vàng mật ong, opan sữa (bán trong màu trắng, ánh ngọc), chrysopa (đục, xanh táo), …

Đá Opal có giá trị nhất khi có màu nền xám sẫm đến đen và được gọi là đá opal đen. Đá Opal có màu nền là trắng hay màu nhạt thì gọi là đá opal trắng, loại này có nhiều hơn và giá rẻ. Đá Opal từ trong mờ đến trong suốt được gọi là đá opal tinh thể, giá trị của nó ở giữa 2 loại trên.

Đá Opan màu vàng

Công dụng:

Người Hindu cho rằng, đá opan có thể giúp cho trẻ e mau lớn. Các nhà thạch học trị liệu hiện đại cho rằng, đá opal phát triển trực giác và có ảnh hưởng tốt tới hệ thần kinh, tuyến yên và đầu xương, và opan điều hòa tất cả các chức năng của cơ thể và bảo vệ chống bệnh nhiễm khuẩn.

Nhờ có sự phong phú về màu sắc mà từ thời cổ đá opal đã là biểu tượng của sự thất thường, tượng chưng cho số phận hay thay đổi, nó làm cho trực giác trở nên tinh nhạy và giúp tạo ra cảm hứng. Ở Phương Đông, nhất là Ấn Độ, opal từ lâu đã được coi là đá của tình yêu, sự tin tưởng và lòng chắc ẩn. Bằng ánh lấp lánh trên bề mặt viên đá opal soi sáng trí tuệ, xua đuổi những ý nghĩ u tối và sợ hãi. Khi nhìn vào đá opal những thầy pháp Ấn Độ hồi tưởng những hóa thân của mình trước kia. Đá Opal là biểu tượng của hạnh phúc, hy vọng và tình yêu trìu mến dịu dàng.

Bảo quản và làm sạch:

Đá Opal có độ cứng 6 trên thang Mohs, mềm hơn nhiều loại đá quý khác, do đó nên giữ gìn cẩn thận để tránh bị làm trầy xước bởi những nữ trang khác. Nếu để đá rơi, phần nào lộ ra sẽ dễ bị bể. Không được để opal tiếp xúc với nhiệt hay axit. Rửa đá opal với xà phòng: dùng bàn chải chà phía sau viên đá nơi có thể dính nhiều chất dơ.

Theo Rongvanglab