Tag Archive: đá quí phong thủy


Sáng 18-1-2010, Công ty đá quý nữ trang Thần Châu Ngọc Việt sẽ tiến hành đại lễ khởi công chế tác pho tượng Đức Phật tổ Thích Ca Mâu Ni bằng ngọc bích Jadeite lớn nhất thế giới tại nhà máy của công ty này ở Cẩm Giàng, Hải Dương.

Ngay sau khi đấu giá mua thành công khối ngọc bích Jadeite (một loại ngọc quý nhất trong các loại ngọc) nặng 35 tấn từ Hội chợ đá quý ở Myanmar. Công ty Thần Châu Ngọc Việt đã đưa khối ngọc ngọc bích Jadeite đặc biệt này về Việt Nam đặt tại nhà máy sản xuất của công ty ở Hải Dương.

Khối ngọc được dùng để tạc pho tượng Phật

Sau một thời gian dài phía công ty – chủ sở hữu khối ngọc quý này tìm hiểu hình mẫu và nghiên cứu các phương án khả thi nhất cùng nhiều sự trợ giúp của các chuyên gia trong và ngoài nước để có thể hoàn thiện “đại tuyệt tác” lớn nhất thế giới bằng ngọc bích vào khoảng năm 2011.

Dự kiến ban đầu, khi hoàn thành pho tượng Đức Phật bằng ngọc bích Jadeite sẽ nặng 16 tấn, có chiều cao 3m và độ dày tính vòng tròn hơn 1m. Ngoài ra, còn có thêm một tấm bệ khác cũng được làm từ ngọc nhập khẩu từ Myanma về nặng gần tấn, chiều cao trên 50cm.

Nguyên Tổng Bí thứ Lê Khả Phiêu chụp ảnh lưu niệm trước khối ngọc

Theo công bố, bắt đầu từ 9 giờ sáng ngày 18/1, sẽ có chư tôn đức lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam cùng lãnh đạo nhà nước, lãnh đạo các bộ nghành liên quan và hơn 1.000 đại biểu, quan khách, Tăng Ni, Phật tử và người dân địa phương tham dự chế tác pho tượng Đức Phật bằng ngọc bích Jadeite tại Quốc lộ 5 xã Cẩm Điền (Cẩm Giàng, Hải Dương)

Ban tổ chức Đại lễ đã công bố các chương trình đặc sắc trong ngày khởi công như: Múa lân, biểu diễn võ thuật dân gian, các nghi lễ khởi công, dâng hương, phóng sinh thả chim bồ cầu cầu nguyện hòa bình thế giới…

theo giacngo.vn

(Tester sưu tầm) Các nhà trường sinh học cho rằng thạch anh là một thứ đá trực cảm và cực nhạy, có khả năng làm cho con người giao tiếp với vũ trụ, với thế giới siêu nhiên. Những viên đá thạch anh tuyệt đẹp cho phép nhìn thấy cái vô hình, biết được cái chưa biết, thực hiện cuộc du hành lý thú vào quá khứ và tương lai..

Viên đá màu nhiệm

ừ thời xa xưa, thạch anh (quarta) đã được coi là một thứ đá màu nhiệm. Thạch anh được gọi là băng tinh, không tan thành nước, trông trong suốt như pha lê, có một đặc tính đáng chú ý: Nó bao giờ cũng mát lạnh khi ta cầm lên tay. Bởi vậy từ xưa, để kiểm tra xem là đồ thật hay đồ giả, thợ kim hoàn thường áp nó vào má xem có lạnh không.

Ngoài ra, các nhà trường sinh học còn cho rằng thạch anh là một thứ đá trực cảm và cực nhạy, có khả năng làm cho con người giao tiếp với vũ trụ, với thế giới siêu nhiên. Những viên đá thạch anh tuyệt đẹp cho phép nhìn thấy cái vô hình, biết được cái chưa biết, thực hiện cuộc du hành lý thú vào quá khứ và tương lai…

Hồi cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX việc dùng viên đá thạch anh để bói đã trở thành “mốt” thực thụ ở nước Anh. Đối với một số người nhiệt tình, việc bói này đã mang lại kết quả mỹ mãn và do đó đã trở thành một nghề ăn nên làm ra và rất nổi tiếng. Một trong những thầy bói lừng danh như vậy ở đầu thế kỷ XX là một người Anh tên là Fon Burg. Một loạt vụ việc rắc rối mà Fon Burg khám phá ra nhờ viên đá thạch anh đã làm cho tên ông ta nổi như cồn.

Nhà tiên tri nổi tiếng

Cầu đá thạch anh

Quả cầu đá thạch anh
(Ảnh minh họa: Millenniumminerals)

Vào những năm 1940 ở Mỹ xuất hiện một nhà nữ tiên tri nổi tiếng tên là Jane Dickson (nguyên họ là Pinkert). Ngay từ lúc mới 5 tuổi, Jane đã biểu diễn cho người thân xem khả năng tiên đoán siêu phàm của mình: em đã tiên đoán những sự kiện tương lai, các món quà mà khách đem đến, cái chết của những người thân thích…

Năm lên 8 tuổi, cô bé đã nhận được một món quà có tính chất định đoạt toàn bộ số phận sau này của em. Sự kiện đáng nhớ này xảy ra trong ngôi nhà của một bà thầy bói người Digan nổi tiếng mà mẹ cô dẫn cô đến để “tư vấn”. Công việc đầu tiên của bà Digan là xem bàn tay của cô bé: “Cô con gái của bà sẽ trở thành một nhà tiên tri vĩ đại”. Sau đó bà ta đưa cho cô bé viên đá thạch anh: “Cháu nhìn thấy gì trong viên đá này?”. Jane chăm chú nhìn vào giữa viên đá và bắt đầu miêu tả một địa điểm chưa hề quen biết: một dải bờ hoang dã lởm chởm đá, sóng biển nhấp nhô… “Đấy là quê hương của ta. Ta tặng cháu viên đá này” bà thầy bói Digan nói. Viên đá thạch anh đã lọt vào đúng địa chỉ cần thiết.

Những phỏng đoán chính xác

Chí ít, Jane đã hai lần tư vấn cho Tổng thống Mỹ Roosevelt. Trong cuộc gặp lần thứ nhất vào tháng 11/1944, Roosevelt (bị liệt hai chân phải ngồi trong xe đẩy) hỏi: “Xin cô hãy nói thẳng cho tôi biết liệu tôi còn sống được bao lâu nữa để kết thúc công việc đã bắt đầu?”. Jane không thể né tránh câu trả lời: “Nửa năm nữa, thưa ngài tổng thống, mà có thể thậm chí còn ít hơn”. Sau cuộc gặp đó được 5 tháng, ngày 12/4/1945, đúng như điều Jane tiên đoán, Roosevelt đã từ trần.

Cuối năm 1956, Jane đã tiên đoán rằng sau chừng 7 năm nữa người kế nhiệm đương kim thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru (1889-1964) sẽ là một người mà tên tuổi họ được bắt đầu bằng chữ “S”. Lần này viên đá thạch anh cũng bộc lộ khả năng màu nhiệm của nó: tháng 6/1964 sau khi Nehru qua đời, Lal Bahadur Shatri đã trở thành Thủ tướng Ấn Độ.

Dickson cũng có thể thông báo về số phận của một số người. Chẳng hạn bà đã tiên đoán một cách chính xác tương lai của người nghệ sĩ điện ảnh nổi tiếng Ronald Reagan mà sau này trở thành vị Tổng thống thứ 40 của Hoa Kỳ (1981-1989). Năm 1964, Dickson đã dự báo rằng người Nga sẽ là người đầu tiên đưa con tàu vũ trụ lên mặt trăng, rằng trước năm 2000 bức tường Berlin sẽ bị phá đổ, còn ở La Mã sẽ có vụ ám sát Đức giáo hoàng.

Đặc biệt, Dickson nhìn thấy rất rõ những tấm thảm kịch trong tương lai. Chẳng hạn bà đã báo trước trận động đất năm 1964 ở Aliasca, đã tiên đoán cái chết của J.F.Dales, cái chết của nữ minh tinh Marilyn Monroe, của thủ lĩnh da đen Martin Luther King, của thượng nghị sĩ Robert Kenedy. Bà cũng khuyên can nữ nghệ sĩ Lombard không nên đi máy bay, nhưng Lombard đã coi thường lời cảnh báo tận tình và đã bỏ mạng trong một tai nạn phi cơ.

Danh tiếng trên quy mô thế giới đã đến với Dickson sau vụ ám sát John Kenedy (1917-1963). Sự kiện bi thảm này đã được bà tiên đoán ngay từ năm 1956, khi mà không ai ngờ rằng 5 năm sau vị chính khách ít người biết đến đó sẽ trở thành Tổng thống Mỹ. Song Jane Dickson không chỉ miêu tả cho một nhà báo Mỹ thấy ngoại hình của vị Tổng thống Hoa Kỳ tương lai (mái tóc dày màu hạt dẻ và đôi mắt xanh) mà còn nói rằng kẻ giết ông ta là một người có cái tên bắt đầu bằng chữ “O” hoặc chữ “Q”.

Tháng 12/1966, Jane đã làm cho thế giới sửng sốt bằng một lời tiên tri mới: Bà đã báo cho vợ của người phụ trách bộ phận điều khiển các chuyến bay vũ trụ có người lái biết rằng cái chết đang đe dọa các nhà du hành vũ trụ chuẩn bị bay lên mặt trăng. Bà đã cho biết những gì mình nhìn thấy như sau: “Trên sàn quả tên lửa có một cái gì đó rất lạ – nó mỏng trông giống như lá kim loại, nếu có một dụng cụ nào đó rơi vào nó hoặc có ai đó lấy gót giày giẫm lên thì ắt sẽ xảy ra tai họa. Ở phía dưới sàn tôi nhìn thấy một cuộn dây điện rối tung. Cái chết đang đe dọa các nhà du hành vũ trụ. Tôi cảm thấy rằng linh hồn của họ đang lìa khỏi xác nóng hổi trong những cuộn khói…”

Hỡi ôi, và cả lần này lời tiên đoán cũng rất chính xác. Một tháng sau, ngày 27/1/1967 trong khi tập luyện trong con tàu vũ trụ “Apollon – 1”, 3 nhà du hành vũ trụ Mỹ đã bị thiêu sống. Đó là Virgil Prisom, Edward Wait và Roger Chaffi. Sự cố chập mạch của dây điện ở bên dưới ghế ngồi của Chaffi trong môi trường chứa ôxy nguyên chất lập tức bùng lên thành một ngọn lửa hung hãn. Lời nói cuối cùng mà các nhân viên điều hành vô tuyến điện nghe được là tiếng kêu hấp hối của Roger Chaffi, một thành viên trẻ nhất của phi hành đoàn: “Chúng tôi đang bị thiêu sống! Hãy đưa chúng tôi ra khỏi đây!”. Sau 14 giây, một đám khói bao trùm lên buồng điều khiển và con tàu “Apollon” bị nổ tung vì cháy…

Tiếp cận chân lý

Dickson đã nhiều lần nói rằng sự tiên đoán đến với bà bằng những con đường khác nhau. Đôi khi là do tiếp xúc với một đồ vật mà một người nào đó chạm vào. Đôi khi đó là do nguồn tin “từ trên cao”. Nhưng đặc biệt Jane rất coi việc nhìn vào viên đá thạch anh của mình. Bà cho rằng bằng cách khác thì khó mà có được một “bức tranh” chi tiết. Jane Dickson mất ngày 25/1/1997 và đã mang theo sang thế giới bên kia sự bí ẩn đối với các nhà khoa học.

Sự quan tâm đến những hình ảnh hiện ra trên viên đá thạch anh vào những năm gần đây lại dấy lên mạnh mẽ. Điều đó trước hết có liên quan với sự triển khai các công trình nghiên cứu về những khả năng tâm lý của con người. Một loạt thí nghiệm do các nhà khoa học và các bác sĩ tâm lý nổi tiếng của Mỹ tiến hành, cho thấy rằng những hình ảnh hiện lên trên viên đá thạch anh là có thật chứ không là phải là bịa đặt. Những sự việc và những hiện tượng mà các nhà khoa học thâu nhận được trong những cuộc thí nghiệm với những con người cụ thể càng củng cố thêm quan điểm cho rằng thạch anh hay băng tinh có một số tính năng thông tin đặc biệt mà khoa học rồi đây sẽ phải khám phá.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống

Đặc tính

Đá mắt hổ  là một thành viên quan trọng của gia tộc Thạch anh. Bởi vì nó hàm chứa nhiều chất amiăng xanh xếp thành dãy song song, nó dễ phản ứng với ánh sáng, tạo nên những nhấp nháy, trông giống như mắt hổ, cho nên có tên gọi như vậy. Từ trường của nó rất lớn và mạnh mẽ, thích ứng với thần kinh thái dương.

Cầu đá mắt hổ

Cách dùng

1. Những người luôn có rất nhiều dự định, nhưng lại không thực hiện được, hãy đeo các trang sức làm từ đá mắt hổ, nó sẽ kích thích lòng tin, dũng khí, nâng cao năng lực hành động.

2. Những người khí huyết hư nhược, những người thiếu dũng khí, hãy luôn nắm đá mắt hổ trong tay, kết hợp với thở sâu, có thể tăng cường sức sống và sức mạnh của cơ bắp.

3. Khi làm việc gặp khó khăn, khó lòng kiên trì, chỉ muốn bỏ cuộc, hãy nắm đá mắt hổ ở tay trái, kết hợp thở sâu, sẽ có được những phán đoán và hành động quả quyết, chính xác.

4. Những người trí nhớ kém, khả năng tính toán kém, thường không chú ý tới tình hình hiện thực, hay quên, hãy nên đeo đá mắt hổ ở vùng thần kinh thái dương, như vậy, sẽ tăng cường năng lượng của luân xa thái dương.

5. Những người cá tính nhu nhựơc, nhát gan, không dám đối mặt với thực tế, hãy thường xuyên xoa đá mắt hổ vào vùng thần kinh thái dương, kết hợp với thở sâu, có thể làm cho trường khí của thân thể được tăng cường, sẽ tự tin, dũng cảm, chấp nhận khó khăn thử thách.

6. Những người bị suy yếu dạ dày và đường ruột, nên cầm quả cầu đá mắt hổ đưa vào vùng bụng, làm cho chức năng của các bộ phận vùng bụng khoẻ lên, khả năng ngồi thiền tốt lên, khi ngồi xem ti vi, ngồi nói chuyện với bạn bè và người nhà, cũng đều nên ôm viên cầu đó trong lòng.

7. Khi làm việc tại văn phòng, có thể đặt trên bàn đá mắt hổ hình cầu, hình thỏi, hình kim tự tháp hoặc các vật điêu khắc, như vậy sẽ làm cho tinh thần được tập trung, ổn định, hoàn thành công việc một cách đầy đủ, chu đáo.

8. Cầm đá mắt hổ hình cầu, hình kim tự tháp mà tụng kinh, niệm thần chú, sẽ tăng cường sức mạnh của kinh văn và lời chú.

9. Những người yếu bóng vía, không dám đi đêm, hãy đeo đá mắt hổ để tăng cường trạng thái tinh thần, dũng khí, và cũng để trừ tà.

Trước thế kỷ 20, mò ngọc trai là cách phổ biến nhất để thu hoạch ngọc trai. Các thợ lặn thường bắtsò/trai từ đáy biển hoặc đáy sông và kiểm tra từng con một để tìm ngọc. Không phải tất cả sò/trai tự nhiên đều tạo ra ngọc. Thông thường một mẻ 3 tấn trai/sò chỉ tìm được 3 hoặc 4 con có viên ngọc hoàn hảo. Việc mò ngọc ở Việt Nam được nhắc đến nhiều trong sử sách, có lẽ nổi tiếng nhất được nêu trong tuyên ngôn độc lập Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi, trong đó Nguyễn Trãi đã tố cáo việc quân xâm lược nhà Minh đã bóc lột dân Việt Nam bằng việc bị buộc phải xuống biển mò ngọc trai để cống nộp cho nhà Minh.

Tuy nhiên, ngày nay hầu như tất cả ngọc trai trang sức là ngọc trai nuôi. Thông thường vật lạ cấy vào con sò/trai là mảnh vỏ con trai được đánh bóng cùng với một mảnh nhỏ mô của con trai khác vào cơ quan sinh dục của con trai để làm xúc tác tạo ngọc. Những con sò ngọc ở Biển Nam và Tahiti thường sống sót qua lần khai thác ngọc đầu tiên và được cấy nhân to hơn và được thả lại xuống nước thêm 2-3 năm nữa. Phương pháp sản xuất ngọc nuôi Mikimoto được phát triển bởi một nhóm các nhà khoa học thuộc Đại học Tokyo giữa năm 1907-1916 và công nghệ nuôi cấy này không được Mikimoto lấy bản quyền. Nhóm nghiên cứu do Nishikawa và Tátuhei Mise lãnh đạo. Nishikawa được cấp bản quyền công nghệ năm 1916 và cưới con gái của Mikimoto. Mikimoto đã có thể sử dụng công nghệ này sau khi bản quyền hết hạn vào năm 1935. Sau khi bản quyền được cấp năm 1916, em trai của Tatsuhei là người đầu sản xuất lứa ngọc trai thương mại đầu tiên trên loại trai Akoya. Mitsubishi ngay lập tức áp dụng công nghệ này đối với loại trai Nam Hải năm 1917 ở Philippines, và sau đó ở Buton và Palau. Mitsubishi là người đầu tiên sản xuất ngọc trai nuôi ở Biển Nam mặc dù đến năm 1931 lứa ngọc trai thương mại đầu tiên mới được sản xuất thành công. Công nghệ này được áp dụng cho sản xuất thương mại cho loại ngọc đen Tahiti thập niên 1970.

ngọc trai tự nhiên màu vàng

Ngọc trai (Hán-Việt: 珍珠, trân châu) là một vật hình cầu, cứng được một số loài vật tạo ra, chủ yếu là loài thân mềm (nhuyễn thể) như con trai. Ngọc trai được sử dụng làm đồ trang sức và cũng được tán thành bột để dùng trong mỹ phẩm. Ngọc trai được đánh giá là một loại đá quý và được nuôi và thu hoạch để làm đồ trang sức. Ngành Đông y cho rằng trân châu có vị hơi ngọt tính bình vào được kinh tâm can thận, có tác dụng phối hợp chữa kinh phong, an thần, giải độc, tan màn mây ở mắt, trở ngại tuần hoàn nước mắt, ù tai, xây xẩm…

ngọc trai tự nhiên

Đặc điểm tự nhiên:

Độ bóng của ngọc trai phụ thuộc vào độ phản xạ và độ khúc xạ ánh sáng từ những lớp trong mờ và độ đẹp của hạt ngọc tỷ lệ thuận với độ dày và nhiều của lớp trong mờ này. Sự phát tán ngũ sắc mà một số loại ngọc tạo ra là do sự chồng lấn lên nhau của các lớp liên tục nhau làm tán xạ ánh sáng chiếu vào bề mặt. Ngọc trai thường có màu trắng, đôi khi có màu kem hoặc phớt hồng và có thể nhuốm màu vàng, xanh lá cây, nâu, tím hoặc đen.

Ngọc trai nước ngọt và nước mặn:

Ngọc trai gồm hai loại: trai sống ở nước ngọt và trai sống ở nước biển. Ngọc trai nước ngọt được loài trai sống ở hồ, sông và những nơi nước ngọt khác tạo ra. Phần lớn ngọc trai nuôi nước ngọt ngày nay được Trung Quốc sản xuất. Ngược lại, ngọc trai nước mặn được những con điệp, hàu bao sống ở các vịnh biển tạo ra. Akoya, Tahiti, Nam Hải là ba loại ngọc trai nước mặn chủ yếu. Ở Việt Nam, ngọc trai được nuôi cấy ở đảo Cô Tô (Quảng Ninh), Nha Trang (Khánh Hòa), Phú Quốc…

ngọc trai nước cẩn của Trung Quốc

Ngọc trai nuôi và ngọc trai tự nhiên khác nhau ở cách tạo ngọc một cách tự nhiên hay có sự can thiệp của con người:

Ngọc trai tự nhiên:

Thành phần ngọc trai tự nhiên chủ yếu là xà cừ. Người ta cho rằng ngọc trai tự nhiên tạo ra do những điều kiện tình cờ khi có một vật lạ nhỏ bên ngoài hoặc hạt cát chui vào bên trong con sò, trai và nằm luôn trong đó. Bị kích thích bởi vật lạ này, con trai tạo ra một lớp xà cừ bao bọc lấy hạt cát xâm nhập đó. Quá trình này lặp đi lặp lại nhiều năm và tạo ra viên ngọc. Ngọc trai tự nhiên có giá trị là loại đồ trang sức quý hiếm. Giá trị thực của ngọc trai tự nhiên tương đương với đá quý và phụ thuộc vào kích cỡ, hình dạng và chất lượng của hạt ngọc. Ngọc trai tự nhiên đang trở nên ngày càng hiếm hơn do người ta bắt trai và sò để nuôi. Do đó, cơ hội để mò ra ngọc tự nhiên ngày càng hiếm hoi. Phần lớn những viên ngọc tự nhiên được bán cho những nhà sưu tập và hiếm khi được dùng làm đồ trang sức như dây chuyền.

Ngọc trai nuôi:

Ngọc trai nuôi (ngọc trai có nhân và không nhân hay có nhân mô) và ngọc nhân tạo có thể phân biệt được với ngọc tự nhiên bằng cách kiểm tra X quang. Nhân của hạt ngọc nuôi được tạo ra bởi con người và viên ngọc có hình dáng của nhân mà người ta cấy vào. Sau khi viên hạt được người ta cấy vào, con trai, sò sẽ tạo ra một vài lớp xà cừ trên bề mặt viên hạt này trước khi nó được lấy ra 6 tháng sau đó. Khi được kiểm tra bằng X quang, nhân của hạt ngọc nuôi sẽ lộ ra một cấu trúc khác với cấu trúc của ngọc tự nhiên. Nhân của viên ngọc nuôi sẽ lộ ra một tâm đặc không có các vòng đồng tâm chồng lên nhau trong khi nhân của ngọc trai tự nhiên gồm có các vòng xuyến chồng lên nhau. Một viên ngọc tự nhiên có tâm xà cừ đặc hoặc 100% trân châu. Ngọc tự nhiên cũng có hình dạng tự nhiên, kiểu viên hình tròn hiếm khi thấy.

Ngọc trai đen, thướng gọi là ngọc trai đen Tahiti, được đánh giá cao vì chúng hiếm thấy. Việc sản xuất ngọc đen bằng nuôi cấy mang lại sản lượng thấp hơn và không thể sản xuất hàng loạt do loại sò, trai này có sức khỏe kém, khó sống sót và con sò, trai thường đào thải vật lạ chui vào tự nhiên hay do con người cấy vào. Trước khi có trai ngọc nuôi, ngọc trai đen hiếm hoi và được định giá rất cao với lý do đơn giản là con sò/trai ít khi tạo ra ngọc đen cũng như do loại sò/trai này hiếm khi tạo ngọc.

vệ sinh Hàu bao- Hào cho ngọc trai vàng

-Ngọc trai đen quý hiếm hơn ngọc trai nước ngọt Trung Quốc cũng như ngọc trai Akoya của Nhật Bản và Trung Quốc vì thế cũng có giá trị cao hơn. Tuy nhiên ngọc trai Nam Hải còn hiếm và có giá trị cao hơn cả ngọc trai đen. Điều này đơn giản là do loài trai Pinctada margaritifera tạo ngọc đen có số lượng nhiều hơn so với loài trai Pinctada maxima tạo ngọc Nam Hải, loài này rất hiếm gặp ở các đầm phá mà thường phải lặn xuống một số ít vị trí ở tầng nước sâu. Ngọc trai đen được tạo từ loài trai Pinctada margaritifera không phải là loại ngọc trai Nam Hải mặc dù chúng thường bị mô tả nhầm lẫn là ngọc trai đen Nam Hải. Do chưa có một định nghĩa chính thức về ngọc trai từ loài trai đen nên những loại ngọc trai này đều được xem là ngọc trai Tahiti đen. Định nghĩa chính xác của CIBJO và GIA về ngọc trai Nam Hải là loại ngọc trai được tạo ra từ loài trai tạo ngọc Pinctada maxima. Màu sắc của viên ngọc Nam Hải cũng chính là màu sắc của con trai Pinctada maxima mang viên ngọc đó, đó có thể là màu trắng, bạc, hồng, vàng, kem hay là một sự kết hợp ngẫu nhiên của những màu cơ bản này, bao gồm cả những sắc màu cầu vồng của lớp xà cừ trên chính lớp vỏ của con trai.

Viên ngọc trai lớn nhất từ trước đế này là từ Philippines vào năm 1934. Viên ngọc này nặng 14 lb (6,4 kg) khi nó được một người thợ lặn Hồi giáo Philippines vô danh tìm ra tại ngoài khơi của đảo Palawan. Sau này, một người tù trưởng Palawan đã tặng nó cho Wilbur Dowell Cobb năm 1936 làm quà tặng để trả ơn đã cứu sống con trai mình. Đầu tiên viên ngọc này được gọi là “Trân châu của Allah (Thượng Đế)” và tên chính thức của nó hiện nay là “Viên trân châu Lão Tử”. Theo định giá năm 2006, viên trân châu này có giá trị 61.850.000 USD.

Đồ trang sức:

Giá trị của ngọc trai về mặt trang sức được quyết định bởi sự kết hợp giữa độ lóng lánh, màu sắc, kích cỡ, vết tỳ bề mặt và độ cân đối phù hợp với loại ngọc đang được xem xét. Trong các yếu tố trên, độ lóng lánh của viên ngọc là yếu tố quan trọn nhất để đánh giá chất lượng cho trang sức. Nếu mọi yếu tố như nhau thì viên ngọc càng lớn càng quý. Viên nào to, tròn thì hiếm có và được định giá cao. Những viên ngọc có hình giọt nước mắt được sử dụng làm bông tai. Những viên có hình dạng không đồng đều được sử dụng trong chuỗi hạt.

Ngọc trai tự nhiên làm vòng cổ và chuổi vòng tay

Ngọc trai có 8 hình dạng cơ bản: tròn, nửa tròn, viên cúc, giọt, quả lê, oval, baroque và nhẫn. Viên tròn hoàn hảo hiếm nhất và đắt nhất và thường được sử dụng trong các chuỗi hạt hay dây hạt. Những viên hình hạt cúc áo có dạng gần tròn và cũng có thể được dùng làm chuỗi hạt nhưng thường được dùng làm bông tai và mặt đen của hạt ngọc bị che đi và trông nó có vẻ tròn hơn và lớn hơn.

Những viên hình giọt nước và quả lê được dùng làm bông tai đầu tua dây chuyền hoặc làm trung tâm của một chuỗi dây.

Thông thường đồ trang sức bằng ngọc tự nhiên quý hơn nhiều ngọc nuôi.


Tháng 1: Đá Garnet – Đá Ngọc hồng lựu.

Đá Granat đủ các màu.

Nghe tên gọi bạn sẽ nghĩ đến loại ngọc màu đỏ? Không chỉ vậy, Garnet có đủ loại màu sắc, chỉ thiếu màu xanh dương. Ngoài ra còn đủ hình dáng, phù hợp với thị hiếu. Người sinh tháng một đeo đúng loại ngọc bên mình, ngọc sẽ dẫn đường trong đêm tối, soi sáng chủ nhân hơn hẳn người khác. Người Ai cập cho rằng, Garnet là thuốc giải những vết rắn cắn và ngộ độc thức ăn.  Đây là viên đá kỉ niệm 2 năm ngày cưới.

Tháng 2: Đá Amethyst – Đá Thạch anh tím.

Đá thạch anh tím từ nhạt đến đậm

Có rất nhiều loại tím của loại ngọc này: từ tím el lệ, đinh hương tím nhạt đến mạnh mẻ tím ngả sang đen. Đẹp nhất là tìm trầm ánh hồng. Người sinh tháng 2 mang đúng ngọc sẽ giúp chủ nhân luôn sáng suốt, không phải “say rượu ” cũng như “say tình “, an toàn thoát khỏi sự lừa dối, phản bội. Đây còn là loại thần dược chữa bệnh hói đầu, làm đẹp da.  Viên đá kỉ niệm 6 năm ngày cưới.

Tháng 3: Đá Aquamarine – Đá Ngọc xanh biển

Đá Aquamarine xanh biển

Có màu xanh tươi sáng của biển. Ngọc trợ giúp những ai lên đenh trên biển, là món quá quý giá của những cư dân lênh đênh trên biển, thủy thủ hay người đi biển. Nằm mơ thấy ngọc cho thấy phải kết bạn mới. Ngoài kiến thức và tầm nhìn, người sinh tháng 3 mang ngọc xanh biển còn có đựoc tình yêu, sự trìu mến.  Viên đá kỉ niệm 19 năm ngày cưới.

Tháng 4: Đá Diamond – Đá Kim cương:

Đá kim cương thô màu trắng có đường kính 3cm nặng 196 carat mới được tìm thấy tại mỏ Letseng ở vương quốc Lesotho thuộc miền nam châu Phi.

Loại đá cứng nhất với thần chất cacbon. Mảnh vụn của các ngôi sao, nước mắt của các vị thần, hay ảnh chớp kết tinh đều là những hình ảnh ẩn dụ chỉ kim cương. Thời xưa, chỉ có vua mới đựơc đeo kim cương, biểu tượng của sức mạnh, lòng can đảm và sự bất khuất. Qua nhiều thế kỉ nó trở thành món quả tối thượng của tình yêu. Kỉ niệm 10 năm và 60 năm ngày cưới.

Tháng 5: Đá Emerald – Đá Ngọc Lục bảo.

Đá Emerald( Đá ngọc lục bảo) thô

Là nữ hoàng các loại đá và là viên đá của các nữ hoàng. Quý nhất là màu xanh thuần khiết hoặc xanh lá hơi ngả xanh dương, như cả một khu vườn tươi mát. Ngọc lục báo giúp cho thị lực và trí tuệ luôn sâu sắc. Đi đường dài, chúng bảo vệ chủ nhân khỏi hiểm họa. Người mang viên ngọc xanh còn có thể dự đoán tương lai dó có trực giác tốt. Viên đá kỉ niểm 20 và 35 năm ngày cưới.

Tháng 6: Ngọc trai.

Đá ngọc trai

Là sản phẩm hình thành khi trai biển tiết dịch bao lấy một vật thể lạ xâm nhập. Có hiều màu từ hồng trắng đến đen. Ngoài hình tròn phổ biến còn có hình bán cầu, hình giọt nước. Ngọc trai phương đồng được ví như viên đá của mặt trăng, biểu tượng của tính khiêm tốn, sự trong trắng và thuần khiết. Chúng còn là hình ảnh của một cuộc hôn nhân bền vững, hạnh phúc.

Tháng 7: Đá Ruby – Đá Hồng ngọc.

Đá ruby-Đá Hồng Ngọc

Đá ruby-Đá Hồng Ngọc

Như tên gọi, là một loại đá có sắc đỏ thắm. Hồng ngọc là loại đá bền và có độ cứng chỉ sau kim cương. Những viên hồng ngọc lớn rất hiểm và đắt gấp 2-3 lần viên kim cương cùng cỡ. Lấp lánh như ánh sáng của sao hỏa, hồng ngọc có thể chữa lành bệnh thật và giảng hòa cho các đôi tình nhân đang có chiến tranh. Viên đá kỉ niệm 15 năm và 40 năm ngày cưới.

Tháng 8: Đá Peridot.

Đá Peridot tự nhiên

Vẫn được ví như ” Ngọc lục bảo chiều tà “. Vì dưới ánh đèn, viên đá lấp lánh sắc xanh ngọc lục bảo. Peridot chính hiệu trong suốt, có nhiều màu, từ xanh vàng đến xanh sáng. Tượng trưng cho tài hùng biện, thuyết phục, peridot đựoc coi là bùa hộ mệnh và là thần dược chữa viêm xoang. Nếu cẩn trong vàng,con xua tan nổi sợ bóng đêm. Viên đá kỉ niệm 16 năm ngày cưới.
Tháng 9: Đá Sapphire

Đá Saphire thô

Có đủ các màu. Phổ biến nhất là có màu xanh đập. Đặc biết, đá Sapphire không có màu đỏ. Loại đá này cũng rất cứng. Các cặp vợ chồng ngày xưa có một niềm tin mãnh liệt vào loại đá này. Họ tin rằng,những người có tâm địa độc ái khi đeo đá Sapphire sẽ không lấp lánh.
Viên đá kỉ niệm 5 và 45 năm ngày cưới.
Tháng 10: Đá Opal – Đá Ngọc mắt mèo.

Đá Opal tinh thể

Có hơn một tá loại đá Opal rực lỡ, óng ánh, thay đổi sắc màu dưới những ánh sáng khác nhau. Loại phổ biến nhất có thân màu trắng nhấp nháy nhiều sắc màu của lửa. Tựong trưng cho sự hy vọng, sự ngây thơ. Thời Trung cổ, những cô gái tóc vàng cài đá Opal để giữ màu tóc. Còn các nhà văng cho rằng nó giúp chủ nhân trở nên vô hình khi cần.  Viên đá kỉ niệm 14 năm ngày cưới.

Tháng 11: Đá Citrine

Đá Citrine-Đá thạch anh vàng

Tên gọi bắt nguồn từ một loại trái cây giống chanh. Đây là một tập hợp thạch anh có màu sắc vàng nhạt đến nâu vàng. Thịnh hành nhất là màu vàng,cam bắt mắt.Người xưa dùng Citrine để phòng ngừa dịch bệnh, xấu xa, những ý nghĩ tội lỗi. Nó còn đựoc dùng để chữa vết rắn cắn và nọc của các loài bò sát khác. Viên đá kỉ niệm 13 năm ngày cưới.

Tháng 12: Đá Topaz

Đá Topaz xanh dương

Topaz theo tiếng Hy Lạp nghĩa là tỏa sáng, mang nhiều màu sắc từ không màu đến vàng cam, đỏ, nâu mật, xanh lá… Nhưng chỉ có đá Topaz xanh dương là tượng trưng cho người sinh tháng 12. Không chỉ đem lại sức mạnh, đá Topaz còn có thể hạ hỏa người nộ khí, khôi phục sự khôn ngoan, chữa lành suyễn, giảm mất ngủ, thậm chỉ các nhà thần học cho rằng, nó có thể giúp chủ nhân biến mất lúc nguy cấp.Viên đá kỉ niệm 4 năm ngày cưới.


Đá Emerald là một loại đá quý được xếp vào nhóm I chỉ đứng sau kim cương, ruby và saphia. Emerald tên tiếng Việt là emơrôt hay còn gọi là lục ngọc hay lục bảo ngọc. Với màu xanh lục tinh khiết lục bảo ngọc được coi là đại diện của mùa xuân và từ lâu người ta xem lục bảo ngọc là biểu tượng của tình yêu và sự tái sinh. Lục bảo ngọc đại diện cho những ai sinh vào tháng 5, truyền thuyết kể rằng ai sở hữu nó sẽ có tài hùng biện, trí thông minh và tình yêu mãnh liệt.

Đá Ererald_Đá Ngọc Lục Bảo

Nhờ có màu lục mạnh là màu của mùa xuân nên từ lâu người ta xem lục bảo ngọc là biểu tượng của tình yêu và sự tái sinh. Nhiều nhà cai trị khác nhau như nữ hoàng Ai Cập Cleopatra, vua Ấn Độ Shah Jahan và các vua Tây Ban Nha xem emerald là báu vật nên nó đã trở thành một loại tiền tệ quốc tế trong hàng nghàn năm qua.

– Xác ướp Ai Cập xưa được chôn cùng với lục bảo ngọc đeo trên cổ để chứng tỏ tuổi trẻ bất diệt. Lục bảo ngọc là loại đá quý được Cleopatra ưa thích. Các Mogul (vua chúa Hồi giáo cổ từ thế kỷ 16 đến 19) ở Ấn Độ, trong đó có Shah Jahan, người đã xây đền Taj Mahal, thích emerald đến nỗi mà họ hay khắc lời kinh lên chúng và đeo như là bùa chú. Một số đá quý linh thiêng này, được gọi là lục bảo ngọc Mogul, ngày nay vẫn còn thấy chúng trong các bảo tàng và các bộ sưu tập.

Đá Emerald-Đá Ngọc Lục Bảo thô

Người Incas (cư dân cổ sống vùng cao nguyên Nam châu Mỹ trước khi bị Tây Ban Nha chinh phục) có một nữ thần lục bảo ngọc, đó là một viên lục bảo ngọchuyền thoại to bằng một trứng đà điểu. Ở Mỹ, lục bảo ngọc là đá mừng sinh nhật trong tháng 5.

Chất lượng, Giá trị và Tính phổ biến:

– Lục bảo ngọc giá trị nhất khi có màu lục mạnh sáng của cỏ mùa xuân sau cơn mưa. Vì lục bảo ngọc ở Columbia đã được xem là chuẩn mực bao thế kỷ nay cho nên loại màu lục thuần khiết, như thấy ở Columbia, thường được ưa chuộng hơn là màu lục hơi xanh sẫm của lục bảo ngọc tại Phi châu. Lục bảo ngọc hiếm và trị giá cao. Với những viên màu đẹp nhỏ hơn 5 carat thì lục bảo ngọc có thể sẽ cao giá hơn ruby hay saphia.
– Vì lục bảo ngọc không tạp chất thường hiếm cho nên người ta chấp nhận lục bảo ngọc có một số tạp chất nhất định và chúng không làm giảm giá trị viên đá. Tuy nhiên khi mua, bạn không nên chọn những viên nào có khe nứt hay tạp chất phân bố quá sâu vào bên trong viên đá, vì chúng sẽ làm cho viên đá yếu đi và dễ bị nứt, bể khi vô tình va chạm mạnh.
– Lục bảo ngọc thường được cắt mài theo kiểu hình chữ nhật, giác tầng mà mọi người hay gọi là kiểu lục bảo ngọc. Các viên đá nhỏ thì lại được mài theo dạng tròn, ovan, giọt nước, hạt dưa. Nhờ màu đậm nên lục bảo ngọc cũng rất đẹp khi được mài theo dạng cabochon.

Đá Emerald- Đá Ngọc Lục Bảo đang chế tác

Nguồn gốc:

Columbia là nguồn lục bảo ngọc nổi tiếng nhất và cũng là quốc gia khai thác quan trọng nhất.
– Lục bảo ngọc từ Brazin thì thường có kích thước lớn nhưng màu lục thì lại nhạt hơn màu lý tưởng.
– Lục bảo ngọc ở Zambia thì lại có màu lục phớt xanh sẫm và có độ sạch rất cao.
– Lục bảo ngọc gốc Zimbabwe có màu đẹp và độ sạch khá cao nhưng kích thước thường nhỏ hơn 1 carat.
– Lục bảo ngọc ở Afghanistan và Madagasca có màu đẹp nhưng khai thác còn hạn chế.
– Lục bảo ngọc là loại đá quý cứng chắc, có độ cứng đạt 7,5 đến 8 trên thang Mohs. Tuy nhiên vì có nhiều tạp chất nên xử lý phải hết sức cẩn thận và tránh những va chạm mạnh.
– Hiện tại Việt Nam chưa phát hiện được lục bảo ngọc, nhưng các dấu hiệu địa chất ở một số vùng có thể cho phép phát hiện lục bảo ngọc trong tương lai.
Phương pháp xử lý và tổng hợp:

– Lục bảo ngọc được tổng hợp trong công nghiệp chủ yếu bằng phương pháp nhiệt dịch và ít hơn là phương pháp chất trợ dung “flux”.

– Thông thường lục bảo ngọc thường chứa nhiều các bao thể, các khe nứt lấp đầy do vậy, các khe nứt phổ biến trong lục bảo ngọc và thường được lấp đầy bằng chất dầu hoặc thuỷ tinh màu để làm tăng độ tinh khiết. Cách xử lý này gọi là lấp đầy hoặc tẩm dầu khe nứt. Có thể cần tái lấp đầy lục bảo ngọc định kỳ để thay thế chất lấp đầy cũ đã bị biến đổi. Việc xử lý này được xem là không bền và có thể phát hiện được.

Bảo quản:
Bạn không nên rửa lục bảo ngọc bằng nước xà phòng nóng hoặc bằng hơi nước sôi và không bao giờ được rửa nó với máy siêu âm vì vật liệu lấp đầy có thể bị đẩy ra khỏi viên đá hoặc bị biến đổi, làm lộ ra các khe nứt. Chỉ nên rửa với nước nguội và dùng bàn chải chà nhẹ để lấy đi chất dơ dính phía sau viên đá.

Granat hay đá thạch lựu, là một nhóm khoáng vật silicat.

Tên gọi bắt nguồn từ tiếng La tinh Granatus – có nghĩa là “hạt, hột”, có thể để chỉ tới quả thạch lựu (Punica granatum) vì các tinh thể của một số loại granat có hình dáng, kích thước, màu sắc tương tự như hạt của quả thạch lựu. Từ năm 1803 thuật ngữ “granat” được dùng cho cả nhóm khoáng vật này.

Đá Granat( Đá Thạch Lựu) màu đỏ

Tên gọi khác, biến thể: Bechita-Chevert (Tên gọi granat trong tiếng Nga cổ), Cabun cul (granat có mầu đỏ rực), leikgranat (Granat trong suốt không mầu), Melannit-Sorlomit (granat mầu tối gần như đen).

Những tinh thể granat trong đá trông như hạt của quả lựu, bao gồm 6 dạng khoáng vật là almandin, grossular, andradit, pirop, spessartit, uvariovit với màu sắc của các dạng khoáng vật rất đa dạng (đỏ, đỏ sẫm, hồng, đen, đỏ nâu, da cam, vàng, phớt lục …

Đá Granat( Đá Thạch Lựu) màu vàng

Các dạng đá granat được tìm thấy với nhiều màu, như đỏ, cam, vàng, lục, lam, tía, nâu, đen, hồng và không màu. Hiếm nhất trong số này là granat lam. Nó đổi màu từ lục-lam trong ánh sáng ban ngày thành tía trong ánh sáng đèn nóng sáng (đèn dây tóc).

Granat – đá của tình yêu, có khả năng khơi đậy niềm đam mê trong tình yêu và làm phấn chấn tâm hồn. Nó xua đuổi bất hạnh và đem lại hạnh phúc cho chủ nhân. Granat có tính gợi tình, khơi dậy lòng quả cảm, tăng cường ý trí và sự dẻo dai cũng như giúp phát triển lòng tự tôn. Người ta tin rằng, nhẫn gắn mặt đá granat đem lại chủ nhân của nó quyền thống trị người khác. Granat cũng được coi là biểu tượng của lòng trung thủy, niềm tin, lòng trung thành và sức mạnh. Granat có thể giao tiếp với thế giới của những người đã khuất. Nó có tác dụng với những người có mong muốn nhìn vào tương lai.

Đá Granat( Thạch Lựu) nguyên thủy

Granat là biểu tượng của chòm sao Thích Bình và Thiên Ất trong cung hoàng đạo, năng lượng chiếu xạ của dương có tác dụng tới luân xa vùng xương cùng: cung cấp năng lượng cho trực tràng, bộ máy nâng đỡ – vận động: giúp tạo ý chí trong cuộc sống, năng lượng thể chất, tiềm năng, khơi dậy cảm giác vững tin và kiên định.

Công dụng khác:

– Granat trong suốt có màu đẹp dùng làm đồ trang sức. Các loại cứng như anmandin, pirop, spesatin dùng làm nguyên liệu để mài làm giấy nhám đánh các gờ gỗ cứng, mài gương, đánh da, gỗ cứng…

– Tính chất chữa bệnh: Granat giúp cho phụ nữ có mang sinh nở được dễ dàng. Những hiệp sỹ thời xưa thường đeo nhẫn granat để bảo vệ mình không bị thương và nhiễm độc. Granat có tác dụng tích cực đối với hệ tiêu hóa, hệ hô hấp, tuần hoàn và hệ thống miễn dịch. Người ta tin rằng vòng cổ bằng granat giúp điều trị bệnh sốt cao, viêm họng và đau đầu kinh niên. Granat vàng và nâu có tác dụng với bệnh da liễu, bệnh tiêu hóa, táo bón và dị ứng.

Đá Hồng ngọc, hay đá ngọc đỏ, là một loại đá quý thuộc về loại khoáng chất corundum. Chỉ có những corundum màu đỏ mới được gọi là hồng ngọc, các loại corundum khác được gọi là xa-phia (tiếng Anh: sapphire). Màu đỏ của đá hồng ngọc là do thành phần nhỏ của nguyên tố crôm lẫn trong ngọc tạo nên. Đá hồng ngọc có tên tiếng Anh là ruby, xuất phát từ ruber trong tiếng La tinh có nghĩa là “màu đỏ”. Đá hồng ngọc trong tự nhiên rất hiếm, các loại đá hồng ngọc được sản xuất nhân tạo tương đối rẻ hơn.

Đá Hồng Ngọc thô

Màu: để đánh giá chất lượng đá quý, màu là yếu tố quan trọng nhất. Màu gồm 3 thành phần: màu (hue), sự bão hòa và sắc (tone). Màu đề cập đến màu như thuật ngữ thường sử dụng. Đá quý trong suốt khi có màu là các màu: đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, đỏ tía và hồng. Sáu màu đầu được đề cập trong dãy quang phổ nhìn thấy, 2 màu sau là màu được trộn. Đỏ tía là màu nằm giữa đỏ và xanh, hồng là bóng mờ của màu đỏ. Trong tự nhiên hiếm gặp màu nguyên thủy vì vậy khi nói màu của đá quý ta đề cập đến màu thứ cấp. Trong hồng ngọc, màu nguyên thủy phải là đỏ. Tất cả các màu còn lại của nhóm đá quý corundum đều gọi là xa-phia. Đá hồng ngọc cũng có thể có màu thứ cấp như: cam (đỏ vàng), đỏ tía, tím và hồng.

Đá hồng ngọc tốt nhất là loại sáng có sắc tối đến trung bình.

Trong các loại đá quý, kim cương được xem như đứng hàng đầu. Người tiêu dùng cũng đã quen thuộc với cụm từ ”Kim cương là vĩnh cữu” và nhẫn cưới bằng kim cương cũng được xem như là một cách thể hiện tình yêu vĩnh cữu với thời gian, vì thế nên không có một loại đá quý nào có thể sánh được với kim cương.

Đá quí-Kim Cương nguyên thủy

CẤU TRÚC:

Đá kim cương được cấu tạo bằng một loại nguyên tử Carbon (C) duy nhất, sắp thật khít nhau trong một khối lập phương gọi là ô cơ bản có thể tích nhỏ nhất. Do thế mật độ của các nguyên tử tương đối cao ứng với tỷ trọng SG=3.52, cùng lúc độ cứng cũng cao (độ cứng Mohs = 10) cứng nhất, đứng đầu trong các đá quý tự nhiên lẫn nhân tạo.

– Trong tự nhiên, nguồn Carbon để hình thành đá kim cương chủ yếu nằm trong thực vật và carbonate. Khi bị vùi lấp, trong quá trình địa chất, chúng biến thành than bùn, than đá, than chì . . . Khi môi trường hội đủ điều kiện về nhiệt độ và áp suất, các nguyên tử carbon được nén khít với nhau tạo thành kim cương trong hệ tinh thể lập phương.

Đá quí-Kim Cương tự nhiên

– Trong ô cơ bản của hệ này, các nguyên tử C chiếm vị trí các đỉnh, tâm các mặt vuông và trong ruột có chứa thêm 4 nguyên tử C. Cách kết tinh theo hệ lập phương cho được môi trường đẵng hướng, vận tốc ánh sáng truyền trong tinh thể cố định theo mọi phương ứng với chiết suất RI=2.417 không đổi.

–  Trong kim cương thường gặp chiết suất đơn này không hoàn toàn cố định, một số nơi nào đó trong môi trường tinh thể người ta thường gặp có hiện tượng lưỡng chiết suất bất thường mà quan sát qua 2 nicol vuông góc hiện tượng tắt hẳn của môi trường đẳng hướng đã chuyển sang ít nhiều dị hướng ở những nơi mà không thấy tắt hoàn toàn (strong strain).

Kim Cương sau khi mài đủ các màu

DẠNG TINH THỂ:

Dạng tinh thể thường gặp ngoài tự nhiên thường có hình bát diện đều với 8 mặt lồi hình tam giác hay khối lập phương hoặc dạng khác thuộc tam bát diện có 24 mặt tam giác, lục bát diện có 48 mặt tam giác, 12 mặt thoi . . .Cát khai tốt theo hệ mặt {111} của bát diện đều.

TIÊU CHUẨN 4C (carat, color, clarity, cut):

Có 4 yếu tố ảnh hưởng đến giá trị của kim cương gọi tắt là tiêu chuẩn 4C đó là  trọng lượng (Carat), màu sắc (Color), độ sạch (Clarity) và tỷ lệ cắt mài (Cut)

Kim Cương tinh thể chưa mài

MÀU SẮC (color):

Màu sắc của đá kim cương cũng đa dạng, tùy theo màu sắc người ta chia kim cương thành hai nhóm không màu và có màu. Nhóm không màu gồm những viên đá kim cương hoàn toàn không mang màu cho đến màu vàng rất nhạt.

Ở loại không màu (Cape), màu được phân cấp và được biểu diễn bằng các mẫu tự bắt đầu bằng chữ D (hoàn toàn không màu, thường gọi là nước D) cho đến Z (màu sậm dần, có màu vàng nhạt), giá trị của kim cương cũng giảm theo độ tăng của màu vàng. Dưới tác dụng của tia cực tím UV, thường có nhiều trong ánh nắng ban mai, một số kim cương (loại mà trong cấu trúc của kim cương có Nitrogen tập trung lại thành nhóm) có hiện tượng phát huỳnh quang màu lam nhẹ sẽ hòa với màu vàng của viên đá để trở thành trắng hơn và làm cho viên đá có thể nhận định sai, tăng lên vài “nước”.

Nhóm đá kim cương màu (fancy) có thể gặp các màu khác như lam, vàng, hồng, lục, tím, đỏ, đen . . .

ĐỘ SẠCH (clarity).:

Độ sạch cũng là một trong các tiêu chuẩn phân cấp kim cương. Độ sạch dùng phân cấp viên đá qua sự hiện diện, số lượng và kích thước của những tạp chất (bên trong) cũng như những khiếm khuyết bề mặt (bên ngoài). Rất hiếm kim cương không có khuyết điểm nào, nghĩa là không tìm thấy một tạp chất hay khuyết điểm bề mặt nào cho dù quan sát dưới loupe 10X bởi một người giàu kinh nghiệm. Nếu các tiêu chuẩn đánh giá khác cũng tốt như vậy, viên đá sẽ đạt giá trị cao nhất.

TRỌNG LƯỢNG – (Carat):

Carat là đơn vị đo trọng lượng. Có 5 carat trong một gam. Trọng lượng của kim cương được tính bằng carat. Một carat được chia thành 100 points.

1   carat =1.00 carat=100points
1/2 carat= 0.50 carat= 50 points
1/4 carat=0.25 carat= 25 points

Cùng một trọng lượng, cùng một chất lượng về màu sắc và độ sạch, thí dụ một viên 5ct có giá đắt hơn một lô 5 viên 1ct cùng chất lượng.

Nhẫn Kim Cương

DẠNG CẮT (cut):

Kim cương khi mài giác phải bảo đảm độ chiếu sáng và độ tán sắc tối đa, nhờ đó ánh sáng vào viên đá  tách thành đơn sắc khi trở ra đến mắt người quan sát thấy lấp lánh gọi là “lửa”. Ở dạng mài tròn chiếu (round brilliant cut), bằng phép tính toán đã xác định chính xác công thức mài theo tỷ lệ % của các phần của viên đá.

Các yếu tố định giá đá cẩm thạch: trọng lượng (hoặc kích thước), màu sắc, độ trong suốt, mức độ tạp chất và độ rạn nứt.


Trọng lượng, kích thước: Sản phẩm cẩm thạch càng lớn thì giá trị càng cao. Nếu cẩm thạch đạt chất lượng quý thì các nơi chế tác sẽ cắt thành những lớp mỏng, bề dày lớp đá vừa đủ để ưu tiên mài các vòng đeo tay, phần còn dư sẽ làm các sản phẩm khác để tận dụng hết khối đá.

Đá cẩm thạch màu trắng

Màu sắc: Màu có lẽ là yếu tố quan trọng nhất trong định giá cẩm thạch. Màu jadeite khá đa dạng (xem hình 3): không màu, trắng, xám, lục (xanh lá), vàng, cam, hồng tím, đen… Độ màu từ đậm (mạnh) đến nhạt, hoặc sẫm tối. Màu jadeite thường phân bố không đều, thành dạng đốm nhỏ hay lớn, đá thường có từ 2 màu trở lên, cho nên loại thuần một màu và phân bố đều thì rất hiếm. Thị trường hay dùng màu của các vật sẵn có để gọi màu đá quý giúp người tiêu dùng dễ hình dung như màu lục emerald, lục táo, lục đậu, màu dầu, màu môn…

Đá cẩm thạch xanh lục, càng đậm càng có giá trị.

Màu jadeite được ưa chuộng hiện nay là màu lục, thị trường Việt Nam gọi là màu lý, màu lục càng nhạt thì càng giảm giá trị. Có giá trị cao nhất là màu lục emerald (giống màu của đá emerald), đó là màu lục mạnh và tươi (xem hình 8 và 9). Jadeite màu này và có độ trong suốt cao thì gọi là jade hoàng tộc, là loại jadeite có giá trị cao nhất và cực kỳ hiếm. Các màu lục khác sẽ nhạt hơn, nhưng dễ tìm hơn, đó là màu lục táo, lục đậu giống màu vỏ trái táo và vỏ đậu

Độ trong suốt và kiến trúc đá: Yếu tố này cùng với màu quyết định vẻ đẹp của cẩm thạch. Thông thường cẩm thạch không bao giờ trong suốt bằng các đá quý đơn khoáng khác như kim cương, ruby. Vì đá cấu tạo bởi vi hạt, vi sợi nên cẩm thạch hầu hết là chắn sáng (không cho ánh sáng đi qua đá), một số thì trong mờ và cao nhất là bán trong (nửa trong suốt), nhưng loại này thì rất hiếm

Kích thước và tính đồng đều của các vi hạt ảnh hưởng đến độ trong suốt. Nhiều đá có hạt vừa và thô làm đá dễ bị đục, ngược lại các hạt cực nhỏ và đồng nhất thì đá sẽ trong hơn. Trên thị trường, cẩm thạch có độ trong cao thì gọi là cẩm thạch kính (hình 5). Về mặt giá trị, cẩm thạch càng trong thì giá trị càng cao.

Tạp chất: Tạp chất trong đá cẩm thạch là hàm lượng các vật chất không phải là các khoáng của đá cẩm thạch (jadeite hoặc nepherite). Đặc điểm này không thể xác định bằng mắt thường, tuy nhiên chúng ta có thể cảm nhận qua độ trong, màu sắc của đá. Cẩm thạch càng thuần chất (hàm lượng khoáng jadeite hoặc nepherite trong đá cao) thì đá sẽ trong hơn, màu sẽ đều hơn (hình 4, 5 và 6). Một số tạp chất có màu nâu, xám và đen làm giảm vẻ đẹp của đá và dĩ nhiên làm giảm giá trị của chúng. Để xác định đá có phải là cẩm thạch hay không, là jadeite hay nepherite thì có thể dùng các phương pháp đo tỷ trọng và phương pháp phổ hấp thu.

Độ rạn nứt: Bao gồm các vi lỗ rỗng và khe nứt. Ranh giới các vi hạt và sợi trong cẩm thạch tạo nên các vi lỗ rỗng. Các khe nứt được tạo ra do các lực nén ép tự nhiên sau khi đá hình thành. Quá trình chế tác hoặc va chạm khi đeo cũng có thể tạo nên những khe nứt nhỏ hay lớn. Các khe nứt do quá trình tự nhiên thường có vật chất lấp đầy, đây là một dạng tạp chất thường có màu sắc khác hẵn đá gốc làm đá không đều màu. Các vi lỗ rỗng ít ảnh hưởng đến độ bền của đá, nhưng các rạn nứt thì có thể ảnh hưởng. Đá cẩm thạch rất dai chắc, khó bị mẻ, bể, nhưng nếu đá có những khe nứt lớn thì khi va chạm mạnh, đá sẽ bị tách và bể theo những khe nứt này (các vòng đeo tay là dễ bị va chạm nhất). Tuy nhiên khi chế tác, chất keo hay sáp phủ lên che lấp tất cả các vi khe nứt, người mua không thể nhìn thấy chúng dù xem với lúp tay phóng đại 10 lần. Với các thiết bị chuyên dùng tại các phòng giám định đá quý, các chuyên viên có thể xác định được các vi khe nứt và mức độ ảnh hưởng xấu của chúng đối với sản phẩm cẩm thạch.

theo rongvanglab.com