Tag Archive: đá quí


Đá Hồng ngọc, hay đá ngọc đỏ, là một loại đá quý thuộc về loại khoáng chất corundum. Chỉ có những corundum màu đỏ mới được gọi là hồng ngọc, các loại corundum khác được gọi là xa-phia (tiếng Anh: sapphire). Màu đỏ của đá hồng ngọc là do thành phần nhỏ của nguyên tố crôm lẫn trong ngọc tạo nên. Đá hồng ngọc có tên tiếng Anh là ruby, xuất phát từ ruber trong tiếng La tinh có nghĩa là “màu đỏ”. Đá hồng ngọc trong tự nhiên rất hiếm, các loại đá hồng ngọc được sản xuất nhân tạo tương đối rẻ hơn.

Đá Hồng Ngọc thô

Màu: để đánh giá chất lượng đá quý, màu là yếu tố quan trọng nhất. Màu gồm 3 thành phần: màu (hue), sự bão hòa và sắc (tone). Màu đề cập đến màu như thuật ngữ thường sử dụng. Đá quý trong suốt khi có màu là các màu: đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, đỏ tía và hồng. Sáu màu đầu được đề cập trong dãy quang phổ nhìn thấy, 2 màu sau là màu được trộn. Đỏ tía là màu nằm giữa đỏ và xanh, hồng là bóng mờ của màu đỏ. Trong tự nhiên hiếm gặp màu nguyên thủy vì vậy khi nói màu của đá quý ta đề cập đến màu thứ cấp. Trong hồng ngọc, màu nguyên thủy phải là đỏ. Tất cả các màu còn lại của nhóm đá quý corundum đều gọi là xa-phia. Đá hồng ngọc cũng có thể có màu thứ cấp như: cam (đỏ vàng), đỏ tía, tím và hồng.

Đá hồng ngọc tốt nhất là loại sáng có sắc tối đến trung bình.

Trong các loại đá quý, kim cương được xem như đứng hàng đầu. Người tiêu dùng cũng đã quen thuộc với cụm từ ”Kim cương là vĩnh cữu” và nhẫn cưới bằng kim cương cũng được xem như là một cách thể hiện tình yêu vĩnh cữu với thời gian, vì thế nên không có một loại đá quý nào có thể sánh được với kim cương.

Đá quí-Kim Cương nguyên thủy

CẤU TRÚC:

Đá kim cương được cấu tạo bằng một loại nguyên tử Carbon (C) duy nhất, sắp thật khít nhau trong một khối lập phương gọi là ô cơ bản có thể tích nhỏ nhất. Do thế mật độ của các nguyên tử tương đối cao ứng với tỷ trọng SG=3.52, cùng lúc độ cứng cũng cao (độ cứng Mohs = 10) cứng nhất, đứng đầu trong các đá quý tự nhiên lẫn nhân tạo.

– Trong tự nhiên, nguồn Carbon để hình thành đá kim cương chủ yếu nằm trong thực vật và carbonate. Khi bị vùi lấp, trong quá trình địa chất, chúng biến thành than bùn, than đá, than chì . . . Khi môi trường hội đủ điều kiện về nhiệt độ và áp suất, các nguyên tử carbon được nén khít với nhau tạo thành kim cương trong hệ tinh thể lập phương.

Đá quí-Kim Cương tự nhiên

– Trong ô cơ bản của hệ này, các nguyên tử C chiếm vị trí các đỉnh, tâm các mặt vuông và trong ruột có chứa thêm 4 nguyên tử C. Cách kết tinh theo hệ lập phương cho được môi trường đẵng hướng, vận tốc ánh sáng truyền trong tinh thể cố định theo mọi phương ứng với chiết suất RI=2.417 không đổi.

–  Trong kim cương thường gặp chiết suất đơn này không hoàn toàn cố định, một số nơi nào đó trong môi trường tinh thể người ta thường gặp có hiện tượng lưỡng chiết suất bất thường mà quan sát qua 2 nicol vuông góc hiện tượng tắt hẳn của môi trường đẳng hướng đã chuyển sang ít nhiều dị hướng ở những nơi mà không thấy tắt hoàn toàn (strong strain).

Kim Cương sau khi mài đủ các màu

DẠNG TINH THỂ:

Dạng tinh thể thường gặp ngoài tự nhiên thường có hình bát diện đều với 8 mặt lồi hình tam giác hay khối lập phương hoặc dạng khác thuộc tam bát diện có 24 mặt tam giác, lục bát diện có 48 mặt tam giác, 12 mặt thoi . . .Cát khai tốt theo hệ mặt {111} của bát diện đều.

TIÊU CHUẨN 4C (carat, color, clarity, cut):

Có 4 yếu tố ảnh hưởng đến giá trị của kim cương gọi tắt là tiêu chuẩn 4C đó là  trọng lượng (Carat), màu sắc (Color), độ sạch (Clarity) và tỷ lệ cắt mài (Cut)

Kim Cương tinh thể chưa mài

MÀU SẮC (color):

Màu sắc của đá kim cương cũng đa dạng, tùy theo màu sắc người ta chia kim cương thành hai nhóm không màu và có màu. Nhóm không màu gồm những viên đá kim cương hoàn toàn không mang màu cho đến màu vàng rất nhạt.

Ở loại không màu (Cape), màu được phân cấp và được biểu diễn bằng các mẫu tự bắt đầu bằng chữ D (hoàn toàn không màu, thường gọi là nước D) cho đến Z (màu sậm dần, có màu vàng nhạt), giá trị của kim cương cũng giảm theo độ tăng của màu vàng. Dưới tác dụng của tia cực tím UV, thường có nhiều trong ánh nắng ban mai, một số kim cương (loại mà trong cấu trúc của kim cương có Nitrogen tập trung lại thành nhóm) có hiện tượng phát huỳnh quang màu lam nhẹ sẽ hòa với màu vàng của viên đá để trở thành trắng hơn và làm cho viên đá có thể nhận định sai, tăng lên vài “nước”.

Nhóm đá kim cương màu (fancy) có thể gặp các màu khác như lam, vàng, hồng, lục, tím, đỏ, đen . . .

ĐỘ SẠCH (clarity).:

Độ sạch cũng là một trong các tiêu chuẩn phân cấp kim cương. Độ sạch dùng phân cấp viên đá qua sự hiện diện, số lượng và kích thước của những tạp chất (bên trong) cũng như những khiếm khuyết bề mặt (bên ngoài). Rất hiếm kim cương không có khuyết điểm nào, nghĩa là không tìm thấy một tạp chất hay khuyết điểm bề mặt nào cho dù quan sát dưới loupe 10X bởi một người giàu kinh nghiệm. Nếu các tiêu chuẩn đánh giá khác cũng tốt như vậy, viên đá sẽ đạt giá trị cao nhất.

TRỌNG LƯỢNG – (Carat):

Carat là đơn vị đo trọng lượng. Có 5 carat trong một gam. Trọng lượng của kim cương được tính bằng carat. Một carat được chia thành 100 points.

1   carat =1.00 carat=100points
1/2 carat= 0.50 carat= 50 points
1/4 carat=0.25 carat= 25 points

Cùng một trọng lượng, cùng một chất lượng về màu sắc và độ sạch, thí dụ một viên 5ct có giá đắt hơn một lô 5 viên 1ct cùng chất lượng.

Nhẫn Kim Cương

DẠNG CẮT (cut):

Kim cương khi mài giác phải bảo đảm độ chiếu sáng và độ tán sắc tối đa, nhờ đó ánh sáng vào viên đá  tách thành đơn sắc khi trở ra đến mắt người quan sát thấy lấp lánh gọi là “lửa”. Ở dạng mài tròn chiếu (round brilliant cut), bằng phép tính toán đã xác định chính xác công thức mài theo tỷ lệ % của các phần của viên đá.

Các yếu tố định giá đá cẩm thạch: trọng lượng (hoặc kích thước), màu sắc, độ trong suốt, mức độ tạp chất và độ rạn nứt.


Trọng lượng, kích thước: Sản phẩm cẩm thạch càng lớn thì giá trị càng cao. Nếu cẩm thạch đạt chất lượng quý thì các nơi chế tác sẽ cắt thành những lớp mỏng, bề dày lớp đá vừa đủ để ưu tiên mài các vòng đeo tay, phần còn dư sẽ làm các sản phẩm khác để tận dụng hết khối đá.

Đá cẩm thạch màu trắng

Màu sắc: Màu có lẽ là yếu tố quan trọng nhất trong định giá cẩm thạch. Màu jadeite khá đa dạng (xem hình 3): không màu, trắng, xám, lục (xanh lá), vàng, cam, hồng tím, đen… Độ màu từ đậm (mạnh) đến nhạt, hoặc sẫm tối. Màu jadeite thường phân bố không đều, thành dạng đốm nhỏ hay lớn, đá thường có từ 2 màu trở lên, cho nên loại thuần một màu và phân bố đều thì rất hiếm. Thị trường hay dùng màu của các vật sẵn có để gọi màu đá quý giúp người tiêu dùng dễ hình dung như màu lục emerald, lục táo, lục đậu, màu dầu, màu môn…

Đá cẩm thạch xanh lục, càng đậm càng có giá trị.

Màu jadeite được ưa chuộng hiện nay là màu lục, thị trường Việt Nam gọi là màu lý, màu lục càng nhạt thì càng giảm giá trị. Có giá trị cao nhất là màu lục emerald (giống màu của đá emerald), đó là màu lục mạnh và tươi (xem hình 8 và 9). Jadeite màu này và có độ trong suốt cao thì gọi là jade hoàng tộc, là loại jadeite có giá trị cao nhất và cực kỳ hiếm. Các màu lục khác sẽ nhạt hơn, nhưng dễ tìm hơn, đó là màu lục táo, lục đậu giống màu vỏ trái táo và vỏ đậu

Độ trong suốt và kiến trúc đá: Yếu tố này cùng với màu quyết định vẻ đẹp của cẩm thạch. Thông thường cẩm thạch không bao giờ trong suốt bằng các đá quý đơn khoáng khác như kim cương, ruby. Vì đá cấu tạo bởi vi hạt, vi sợi nên cẩm thạch hầu hết là chắn sáng (không cho ánh sáng đi qua đá), một số thì trong mờ và cao nhất là bán trong (nửa trong suốt), nhưng loại này thì rất hiếm

Kích thước và tính đồng đều của các vi hạt ảnh hưởng đến độ trong suốt. Nhiều đá có hạt vừa và thô làm đá dễ bị đục, ngược lại các hạt cực nhỏ và đồng nhất thì đá sẽ trong hơn. Trên thị trường, cẩm thạch có độ trong cao thì gọi là cẩm thạch kính (hình 5). Về mặt giá trị, cẩm thạch càng trong thì giá trị càng cao.

Tạp chất: Tạp chất trong đá cẩm thạch là hàm lượng các vật chất không phải là các khoáng của đá cẩm thạch (jadeite hoặc nepherite). Đặc điểm này không thể xác định bằng mắt thường, tuy nhiên chúng ta có thể cảm nhận qua độ trong, màu sắc của đá. Cẩm thạch càng thuần chất (hàm lượng khoáng jadeite hoặc nepherite trong đá cao) thì đá sẽ trong hơn, màu sẽ đều hơn (hình 4, 5 và 6). Một số tạp chất có màu nâu, xám và đen làm giảm vẻ đẹp của đá và dĩ nhiên làm giảm giá trị của chúng. Để xác định đá có phải là cẩm thạch hay không, là jadeite hay nepherite thì có thể dùng các phương pháp đo tỷ trọng và phương pháp phổ hấp thu.

Độ rạn nứt: Bao gồm các vi lỗ rỗng và khe nứt. Ranh giới các vi hạt và sợi trong cẩm thạch tạo nên các vi lỗ rỗng. Các khe nứt được tạo ra do các lực nén ép tự nhiên sau khi đá hình thành. Quá trình chế tác hoặc va chạm khi đeo cũng có thể tạo nên những khe nứt nhỏ hay lớn. Các khe nứt do quá trình tự nhiên thường có vật chất lấp đầy, đây là một dạng tạp chất thường có màu sắc khác hẵn đá gốc làm đá không đều màu. Các vi lỗ rỗng ít ảnh hưởng đến độ bền của đá, nhưng các rạn nứt thì có thể ảnh hưởng. Đá cẩm thạch rất dai chắc, khó bị mẻ, bể, nhưng nếu đá có những khe nứt lớn thì khi va chạm mạnh, đá sẽ bị tách và bể theo những khe nứt này (các vòng đeo tay là dễ bị va chạm nhất). Tuy nhiên khi chế tác, chất keo hay sáp phủ lên che lấp tất cả các vi khe nứt, người mua không thể nhìn thấy chúng dù xem với lúp tay phóng đại 10 lần. Với các thiết bị chuyên dùng tại các phòng giám định đá quý, các chuyên viên có thể xác định được các vi khe nứt và mức độ ảnh hưởng xấu của chúng đối với sản phẩm cẩm thạch.

theo rongvanglab.com

Đá cẩm thạch là loại đá quý rất được ưa chuộng ở khu vực châu Á, nhiều nhất là Trung Quốc. Dân chúng của xứ sở này đã sử dụng đá cẩm thạch từ hơn 1000 năm nay, họ dùng đá cẩm thạch làm đồ trang sức hoặc giữ gìn như báu vật. Người dân Việt Nam từ xưa đến nay cũng rất ưa thích đá cẩm thạch.

Đá Cẩm Thạch thô

Đá cẩm thạch (jade) là danh từ chung để chỉ hai loại đá quý riêng biệt, là jadeite và nepherite. Đá cẩm thạch là loại đá quý đa khoáng, nghĩa là jadeite hoặc nepherite chỉ là một trong các thành phần tạo đá, tuy nhiên hàm lượng của chúng chiếm đa số nên tên của chúng được dùng để gọi tên đá, như  đá cẩm thạch jadeite hoặc đá cẩm thạch nepherite. Hiện nay trên thị trường quốc tế, đá jadeite được ưa chuộng và có giá trị cao hơn đá nepherite vì thường có màu sắc đẹp hơn, trong và cứng chắc hơn.

– Nguồn đá jadeite phổ biến ở Myanmar, Guatemala, Nga, Mỹ. Nguồn đá nepherite ở Trung Quốc, Nga, Canada, New Zeland và Mỹ. Đá jadeite đẹp nhất thế giới là từ Myanmar, chúng được bán vào Trung Quốc từ cuối thế kỷ 16. Việt Nam chưa tìm được nguồn đá cẩm thạch đẹp. Toàn bộ đá cẩm thạch ở Việt Nam đều được nhập khẩu từ nước ngoài, chủ yếu từ Hong Kong vì đây là một trong những nơi chế tác và buôn bán đá cẩm thạch lớn nhất thế giới.

Vòng tay đá Cẩm Thạch

Thị trường Việt Nam thường dùng từ chung là đá cẩm thạch, thông thường khi nói đến đá cẩm thạch thì người ta hay nghĩ đó là đá jadeite chứ không nghĩ đến đá nepherite vì có lẽ loại này ít được bày bán.

Đá cẩm thạch được cấu tạo bởi những hạt và sợi cực nhỏ kết dính vào nhau. Chúng có độ cứng thấp hơn nhiều loại đá quý như kim cương, ruby, saphia, topaz, thạch anh. Tuy nhiên nhờ cấu tạo vi sợi và hạt nên chúng có độ dai chắc cao nhất, nhờ tính chất này mà người ta có thể cắt đá cẩm thạch thành những miếng rất mỏng.

Nhẫn đá cẩm Thạch

Bảo quản đá cẩm thạch:
Điều cần quan tâm nữa là cách bảo quản đá cẩm thạch. Khái niệm dân gian “đeo lâu ngày cẩm thạch lên nước” có thể hiểu với ý nghĩa sau: mồ hôi và sự cọ sát vào da người lâu ngày và thường xuyên có thể tác động một chút lên bề mặt đá, có thể là hơi bóng hơn hoặc hơi bị thay đổi màu, tuy nhiên không thể làm đá cẩm thạch tăng màu lục được. Đá cẩm thạch tự nhiên là đá đa khoáng nên có nhiều vi lỗ rỗng và khe nứt, nếu tiếp xúc nhiệt độ quá cao như nhiệt của đèn khò của thợ kim hoàn có thể làm cho đá bị nứt lớn và nóng chảy; khi phải sửa chữa nữ trang đá cẩm thạch thì nhắc thợ không được khò lửa vào đá. Ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng mạnh không làm phai màu đá cẩm thạch tự nhiên. Với acid mạnh, cẩm thạch có thể bị hủy hoại nhẹ. Đá cẩm thạch rất dai chắc, khó bị nứt bể khi va cham nhẹ, tuy nhiên nếu bị va đập mạnh vẫn có thể làm đá bị nứt và bể. Hầu hết đá cẩm thạch thường được phủ keo bảo vệ đá, tuy nhiên lớp keo lại có thể bị biến màu, bị bong ra do tiếp xúc hóa chất tẩy rửa, do va chạm mạnh. Khi đá cẩm thạch phủ keo bị dơ, không nên rửa bằng máy siêu âm và máy xịt hơi nước nóng vì dễ làm bong lớp keo. Trường hợp bị bong keo thì nên nhờ các thợ chế tác cẩm thạch đánh bóng lại. Còn nếu đá bị tẩm màu (màu nhân tạo) thì chắc chắn là đá sẽ bị nhạt màu dần khi đeo, tuy nhiên lâu hay mau tùy thuộc vào chất lượng màu dùng để tẩm; màu tẩm xấu chỉ cần 1 tháng là phai, màu tẩm tốt có thể lâu hơn nhiều nhưng vẫn khó phai hết được. Khi đá cẩm thạch hoặc món nữ trang cẩm thạch bị dơ, tránh dùng những chất tẩy rửa mạnh, tốt nhất thì ta nên ngâm sản phẩm với nước ấm xà phòng và dùng bằng bàn chải đánh răng chà nhẹ vào các kẻ, sau đó dùng vải mềm lau khô, có thể sấy khô bằng máy sấy tóc nhưng không để quá gần sản phẩm và không nên sấy lâu.
Theo Rongvanglab

Đá kiểng Phong Thuỷ bao gồm: Mã Não (Agate), Ca-xe-đon (Chalcedony), gỗ hoá thạch (Fossil Wood) v…v Đây là các loại đá bán quý cũng trong dòng họ Thạch anh. Tính chất của các loại đá này thay đổi tuỳ theo loại đá, tuy nhiên với năng lượng THỔ rất mạnh gần bằng với năng lượng của đá Thạch anh, chúng cũng được sử dụng để tăng năng lượng tại góc Tây Nam (chủ về mối quan hệ làm ăn) và góc Đông Bắc (chủ về học hành) của ngôi nhà.

Đá mã nảo đã xử lý

Nét đẹp của đá kiểng Phong Thuỷ nằm ở hình dáng, nước đánh bóng và màu sắc của viên đá..Quý nhất là các viên đá được tìm thấy trong thiên nhiên mang dáng dấp các con vật như cá, thỏ, chó, chim ưng, bồ câu v..v

Là viên đá của sự bảo vệ và là hoa tiêu dẫn đường, thạch anh ám khói giúp phân tích tốt mọi việc ; cân bằng năng lượng tinh thần và thể chất; Gắn bó tình cảm gia đình; làm hết buồn phiền – buồn rầu;tập trung tư tưởng tốt; giảm đau nhức; xoá bỏ tính ích kỷ – hẹp hòi .

Đá Thạch anh khói

Trong dòng họ đá thạch anh ám khói, đặc biệt xuất hiện đá thạch anh vàng hoặc vàng khói. Đá thạch anh vàng còn được gọi là viên đá kinh doanh (merchant stone), thường được các chủ nhà hàng, siêu thị, khách sạn để ngay tại quầy thu ngân(cashier) để thu hút vận may tài lộc, buôn may bán đắt. Đá thạch anh vàng rất hiếm, đôi khi còn hiếm hơn cả đá thạch anh tím (đá quý amethyst).

Đá Thạch anh khói chế tác thành hình tháp

– Đá thạch anh ám khói ở trong 1 điều kiện môi trường đặc biệt sẽ chuyển thành đá thạch anh đen. Đá thạch anh đen có khối lượng riêng rất nặng và độ cứng cao nhất trong các loại đá thạch anh. Năng lượng của đá thạch anh đen thích hợp với người mạng Thủy, Mộc, Kim và giúp cho người sở hữu có thể tiếp xúc với quyền năng huyền bí của vũ trụ. Đá thạch anh đen tự nhiên cực kỳ hiếm.Tuy nhiên, nếu đá thạch anh đen được tạo nên do đốt xử lý sẽ mang trong mình năng lượng âm, ảnh hưởng ngược lại cho người sử dụng.

Đá thạch anh hồng là viên đá của tình yêu, đá thạch anh hồng tăng cường năng lượng tích cực cho tình yêu và hôn nhân. Nó thường được dùng để dưới giường ngủ của vợ chồng để tránh các mối bất hòa có thể xảy ra, giúp tăng cường sự tự tin và khả năng sáng tạo, giúp ngủ ngon, không mơ hoảng, giúp phục hồi trí nhớ.

Đá thạch anh hồng

Ghi chú: nên để thạch anh hồng dưới chân giường thì tốt hơn để ở đầu giường, tránh năng lượng quá mạnh của thạch anh ảnh hưởng đến giấc ngủ..

Quả cầu thạch anh hồng

Tổ đá thạch anh trắng

Đá thạch anh trắng là viên đá của vũ trụ, cung cấp nguồn năng lượng tinh khiết và mạnh mẽ. Đá thạch anh trắng tiếp nhận, kích hoạt, lưu trữ và khuyếch đại năng lượng vũ trụ; kích thích các chức năng hoạt động của não và tăng cường mức độ tập trung; ứng dụng tuyệt vời cho sự trầm tư mặc tưởng, tạo ra trạng thái cân bằng cho tâm hồn.

Đá thạch anh trắng tinh thể

Con lắc được làm bằng thạch anh trắng có chất lượng tuyệt hảo áp dụng cho các nhà ngoại cảm, các chuyên gia cảm xạ học…

Đá thạch anh trắng hình chóp

Trong dòng họ đá thạch anh trắng xuất hiện 1 loại đá thạch anh có năng lượng cực mạnh rất quý hiếm. Đó là đá thạch anh Tóc. Còn gọi là Thạch anh Rutile, thạch anh titan..Đá thạch anh tóc là thạch anh trắng, bên trong có chứa các sợi tinh thể Titanium (TiO2) quý hiếm. Trên thế giới đá thạch anh tóc thiên nhiên được xem là vô cùng quý hiếm.

Đá thạch anh trắng chế tác thành hình tháp


Đá Ametit (tiếng Anh: amethyst) là một loại đá thạch anh màu tím, thường được sử dụng làm đồ trang sức. Tên gọi xuất phát từ Hy Lạp cổ đại a- (“không”) và methustos (“say”), người ta tin rằng người đeo nó sẽ được bảo vệ không bị say rượu. Đá thạch anh tím ánh hồng nhạt đến tía sẫm, có công thức hóa học là SiO2.  Đá thạch anh tím có thể thể hiện một hoặc cả hai màu thứ cấp là đỏ hoặc xanh lam.

Đá Fluorit-Đá Thạch Anh Tím

Đá Fluorit-Đá Thạch Anh Tím

– Đá thạch anh tím được người Ai Cập cổ đại dùng làm đá quý và khắc khảm. Người Hy Lạp tin rằng đá thạch anh tím có thể chống lại sự say xỉn, trong khi lính Châu Âu thời trung cổ đeo đá thạch anh tím để được bảo vệ khi ra chiến trường. Các chuỗi đá thạch anh tím  được tìm thấy trong các hầm mộ kiểu Anglo-Saxon tại Anh.

– Hốc đá lớn có thạch anh tím kết tinh gần Santa Cruz phía nam Brasil được trưng bày tại triển lãm năm 1902 ở Düsseldorf, Đức.

– Đá thạch anh tím được sản xuất rất nhiều ở bang Minas Gerais, Brasil, nơi đây có rất nhiều tinh hốc lớn nằm trong đá núi lửa. Nó cũng được tìm thấy trong các mỏ ở Hàn Quốc. Mỏ đá thạch anh tím lộ thiên lớn nhất thế giới là Maissau, bang Lower Austria, Úc.

Đá thạch anh tím tinh thể

Đá thạch anh tím tinh thể

– Đá thạch anh tímt là biểu trưng cho tháng 2, là một trong các loại đá tượng trưng cho các tháng trong năm (birthstone). Nó cũng là biểu tượng thứ 12 Song Ngư, thứ 1 Bạch Dương, thứ 11 Bảo Bình và thứ 9 Nhân Mã. Những người sinh sau ngày 18 tháng 2 đeo thạch anh tím tượng trưng cho ngày sinh của và tướng mạo của họ. Nó là biểu tượng của sự thông thái, niềm đam mê và hành động về tôn giáo, tâm hồn. Các thành viên có chức vụ của Nhà thờ Công giáo ở Roma theo truyền thống đeo các chiếc nhẫn có các hạt đá thạch anh tím lớn.

Đá thạch anh tím chứa năng lượng rất mạnh, thường biểu trưng cho sự  Tự chủ về mặt tinh thần; Có ý thức về mọi vấn đề; Niềm tin về tâm linh; Khả năng dự đoán – tiên tri; Sức sống mạnh mẽ; Tính chặt chẻ – chính xác; Đúng mực – thận trọng; Điều độ – tiết độ. Đá thạch anh tím thích hợp cho các doanh nhân, các nhà hoạt động xã hội -chính trị.  Ngoài ra đá thạch anh tím còn có năng lượng chữa bệnh kì lạ nên thường được dùng để bảo trợ cho sức khỏe.

Vị trí đặt đá thạch anh theo Phong Thủy: góc Đông Bắc hoặc Tây Nam
trong phòng khách hoặc phòng làm việc để tăng cường năng lượng THỔ.
Năng lượng THỔ chủ về mối quan hệ, vì vậy các doanh nhân thường đặt đá Thạch Anh ở góc này để phát triển mối quan hệ tốt với khách hàng, đối tác, đem lại lợi nhuận mong muốn, đôi khi gặp may mắn bất ngờ.

Đá thạch anh tím chế tác mặt dây chuyền

Đá thạch anh tím chế tác mặt dây chuyền

Nghi thức tẩy rửa đá thạch Anh:

– Đá thạch anh sau khi mua về phải ngâm trong nước muối biển hoặc hỗn hợp giữa muối hột và muối ăn trong vòng 7 ngày 7 đêm. Nghi thức này sẽ tẩy sạch tất cả năng lượng âm, kích hoạt mạnh mẽ năng lượng dương mà tinh thể thạch anh đã thu hút từ vũ trụ trong hàng trăm triệu năm.