Category: Công dụng đá quý


Hình ảnh ánh trăng màu xanh chiếu xuyên qua bầu trời làm cho bạn hiểu vì sao một loại đá thuộc nhóm fenpat đã được đặt tên là đá mặt trăng (moonstone). Ánh sáng lung linh của nó di chuyển khắp mặt viên đá y như ánh trăng.

Đá Moonstone-Đá Mặt Trăng

Lịch sử và truyền thuyết:

Do vẻ sáng mờ ảo lung linh của đá nên người La Mã và Hindu cổ đại nghĩ là đá mặt trăng thực sự đã được tạo ra từ ánh trăng.

Truyền thuyết kể rằng bạn có thể thấy được tương lai nếu bạn ngậm một viên đá mặt trăng trong miệng lúc trăng tròn.

Đá mặt trăng là một loại fenpat. Ánh sáng lung linh của nó được gọi là sự ngời sáng hoặc là hiệu ứng ánh trăng, được tạo ra bởi sự mọc xen của hai loại fenpat khác nhau, có các chiết suất khác nhau.

Ở châu Âu, đá mặt trăng là đá mừng sinh nhật trong tháng sáu. Còn ở Mỹ, nó có cùng danh hiệu chung với alexandrite và ngọc trai.

Chất lượng, Giá trị và Tính phổ biến:

Đá mặt trăng đẹp thường hiếm, trong khi đó đá chất lượng thấp hơn thì lại có nhiều và giá khá rẻ.

Đá mặt trăng có thể có nhiều màu. Đá thường không màu, trắng hay xám phớt xanh nhạt có hiệu ứng ngời sáng màu trắng hay xanh. Những màu khác như nâu, vàng, lục hay hồng xanh thì hiếm hơn. Đá từ trong suốt đến trong mờ. Đá mặt trăng đẹp nhất thì có độ trong cao, không màu, ngời sáng màu xanh. Đôi khi đá cũng giống như con mắt ngời sáng.

Một loại fenpat có quan hệ gần gũi là đá mặt trăng cầu vồng, đó là fenpat labradorite. Ở đá này, sự ngời sáng có màu cầu vồng.

Đá thường được cắt theo dạng ovan cabochon để đạt hiệu ứng ngời sáng tối đa. Đôi khi chúng cũng được chạm thành hình mặt người nằm trong mặt trăng.

Đá mặt trăng-Đá moonstone

Nguồn gốc:

Đá được khai thác ở Sri Lanka, miền nam Ấn Độ, Miến Điện, và Mexico. Loại cầu vồng có ở Ấn Độ và Madagasca.

Các quốc gia khai thác mỏ đá mặt trăng( moonstore)

Xử lý tăng vẻ đẹp thường gặp:

Chưa thấy xử lý trên đá mặt trăng.

Bảo quản và làm sạch:

Đá mặt trăng có độ cứng từ 6 đến 6,5 trên thang Mohs. Nên cất chúng tách biệt với đá cứng hơn để tránh trầy xước.

Rửa đá với xà phòng: dùng bàn chải đánh răng chà phía sau viên đá nơi dính bụi.

theo rongvanglad

Cũng như những đá quý khác, các nhà ngọc học phân loại chalcedony dựa vào các tiêu chuẩn chính như màu sắc, độ trong, cấu trúc, hiệu ứng quang học, tạp chất đặc biệt… Họ cũng phân loại dựa vào sự kết hợp các tiêu chuẩn. Chalcedony là đá đa khoáng (đa tinh thể) và rất phổ biến, chúng xuất hiện quá nhiều vẻ khác nhau nên được chia ra rất nhiều loại.

Chalcedony hiện diện với nhiều vẻ, nhiều màu. Hình trên là các sản phẩm làm ra từ đá này. Hình của Bernardine Fine Art Jewelry.

Màu sắc: Chalcedony xuất hiện với nhiều màu khác nhau như vàng, cam, nâu, đỏ, lục nhạt, xanh dương nhạt, trắng, xám và đen. Tuy nhiên đa số màu ở chalcedony thì nhạt hay quá sẫm, ít có sắc tươi và mạnh như đá ruby, saphia hay emerald. Các đá nhóm này thường phân bố màu không đều và nhiều màu sắc trên cùng một viên đá vì đá hay có những cấu trúc phức tạp. Điều này thấy rõ ở các đá thô lớn, tuy nhiên với những đá thành phẩm nhỏ thì cũng có viên chỉ có một màu. Phân loại theo màu có các đá đặc trưng như carnelian, sard, chrysoprase, prase…

Độ trong: Chalcedony là đá đa khoáng nên hầu như không trong suốt bằng đá đơn khoáng. Độ trong gồm các cấp từ cao đến thấp: nửa trong suốt (bán trong), trong mờ, nửa trong mờ, đục (chắn sáng). Độ trong chỉ có vai trò nhỏ trong phân loại nhóm đá này. Thí dụ các đá như carnelian, sard, chrysoprase… có độ trong thuộc loại cao nhất trong nhóm, đó là từ bán trong đến trong mờ.

Đá Chalcedony cấu trúc chùm nhoĐá Chalcedony cấu trúc góc cong

Đá Chalcedony cấu trúc song song

Đá Chalcedony cấu trúc bất kì

Cấu trúc: Chalcedony kết tinh tạo nên nhiều kiểu cấu trúc và màu sắc đặc biệt, làm cho khoáng vật này là một trong những đá có nhiều vẻ đa dạng nhất (hình 3). Chúng có thể có dạng các lớp song song, lớp uốn cong hay góc cạnh, dạng chùm nho hoặc đặc sít, dạng đốm, rêu, phân nhánh và bất kỳ… Phân loại theo cấu trúc có các loại như agate, onyx, gỗ hóa đá…

Ở đá thô lớn, ta thấy các kiểu cấu trúc rõ ràng hơn, còn với các thành phẩm nhỏ xíu thì khó thấy hoặc không thấy chúng… Một viên đá thô có cấu trúc lớp góc cạnh hoặc uốn cong, khi mài thành các viên đá rất nhỏ thì chúng có thể thành dạng đồng nhất không có cấu trúc gì hoặc thành dạng lớp song song.

Tạp chất đặc biệt: Tạp chất trong chalcedony khi hiện diện nhiều và phân bố theo nhiều kiểu và màu đặc biệt thì tên đá sẽ dựa vào tạp chất này. Thí dụ như agate rêu, agate nhánh cây, agate phong cảnh, chalcedony chrysocolla, chalcedony đốm đỏ.

Hiệu ứng quang học đá Chalcedony

Hiệu ứng quang học: Đó là hiệu ứng tán sắc (hình 4). Nó xảy ra trên chalcedony khá hiếm, gần giống hiệu ứng lóe màu sặc sỡ ở opal nhưng không phổ biến bằng. Hiệu ứng này là do ánh sáng khi chiếu vào bề mặt đá, gặp các lớp mỏng khác nhau nên tán sắc tạo nên màu cầu vồng trên các lớp. Không phải bất kỳ chalcedony phân lớp nào cũng có hiệu ứng này, mà chỉ một số ít đá có sự sắp xếp các vi tinh tương đối đều đặn mới có hiệu ứng này. Phân loại theo hiệu ứng có các đá là agate lửa, agate tán sắc tùy theo kiểu cấu trúc.

theo rongvanglad.

Giống như  màu nắng và phổ biến, citrine – thạch anh vàng hòa trộn cực tốt các ánh vàng của quý kim vàng bóng láng. Loại thạch anh này có màu vàng đến vàng kim, khá phổ biến và giá phải chăng: trong sách kỷ lục, một viên thạch anh vàng mài giác lớn nhất nặng đến 19.548 carat.

Đá thạch anh vàng

Lịch sử và truyền thuyết:

Tên của đá quý này ( đá citrine) có nguồn gốc từ tiếng Pháp citron là quả chanh, vì thạch anh vàng phần lớn có màu của quả chanh tây.

Thời xưa, người ta đeo đá thạch anh vàng để chống lại nọc rắn độc và quỷ ám.

Đôi khi bạn nghe người ta gọi nhầm thạch anh vàng là thạch anh topaz. Vì topaz là một loại khoáng vật khác hẳn, nên ngành kỹ nghệ buộc phải loại bỏ tên này.

Giống như topaz, thạch anh vàng là một trong số đá mừng sinh nhật trong tháng 11 ở Mỹ.

hang đá thạch anh vàng lớn

Chất lượng, Giá trị và Tính phổ biến:

Citrine là loại thạch anh trong suốt, có màu từ vàng, vàng mật ong đến nâu cam

Mặc dù loại thạch anh vàng có màu nâu cam sẫm đến màu cam hơi đỏ, tên gọi là citrine Madeira, từ trước đến nay là có giá trị cao nhất, nhưng sau này loại có màu vàng chanh sáng lại được ưa chuộng hơn.

Thạch anh vàng thường rẻ hơn thạch anh tím, là loại cùng nhóm với nó. Giống như tất cả loại thạch anh, thạch anh vàng cũng khá phổ biến và đủ loại kích cỡ và hình dáng, kể cả kích thước cực lớn. Người ta cũng hay dùng thạch anh để cắt mài và chạm trổ tùy thích.

Nguồn gốc:

Hầu hết thạch anh vàng được khai thác ở Brazin, đặc biệt là ở bang Rio Grande do Sul. Nó cũng được khai thác nhiều ở Bolivia.

Các ổ đá thạch anh khổng lồ này có nguồn gốc từ Brazin, chúng cao hơn cả cô chủ của chúng. Ổ màu tím là amethyst, ổ màu vàng là citrine. Tuy nhiên để có được đá màu vàng citrine thì người ta phải có những lò nung khổng lồ để nung các ổ amethys thành màu vàng. Hình của B. Laurus.

Ở Việt Nam khoảng 10 năm trở lại đây, các ổ đá thạch anh đã có thị trường. Có người mua để sưu tập, người mua để trang trí dùng vào mục đích phong thủy. Chuộng nhất là ổ amethyst (thạch anh màu tím) và citrine (thạch anh màu vàng). Tuy nhiên đa số các ổ đều cao cỡ vài tấc, cao cỡ 1 m cũng đã hiếm, hầu hết đều nhập từ Brazin.

Trên thế giới, nhưng ổ có kích thước khổng lồ như hình là có một không hai. Để lấy được những ổ đá này ra khỏi đá gốc phải là một kỳ công, nếu làm không khéo, vách của chúng sẽ bể và không còn dạng ổ.  Kỳ công thứ hai là người ta phải có những lò nung khổng lồ để biến những ổ đá màu tím biến thành màu vàng và nung phải đúng quy cách nếu không cũng sẽ phá hủy ổ đá.

Xử lý tăng vẻ đẹp thường gặp:

Phần lớn thạch anh vàng trên thị trường có nguồn gốc là thạch anh tím được nung nhiệt để chuyển thành màu vàng kim.

Bảo quản và làm sạch:

Thạch anh vàng có độ cứng 7 trên thang Mohs. Nó vững bền và có thể đeo hàng ngày.

Rửa thạch anh vàng với xà phòng: dùng bàn chải chà phía sau viên đá là nơi co thể dính chất dơ

Không nên để nữ trang thạch anh vàng dưới nhiệt và ánh sáng mạnh trong thời gian lâu.

Theo Rongvanglab

Mua đá quý, đón phú quý

Những viên đá được hình thành từ sâu trong lòng đất, trải qua nhiều điều kiện địa chất phức tạp và lâu dài, hấp thu được tinh hoa của trời đất nên mang trong mình nguồn năng lượng và linh tính rất cao. Không chỉ có dáng vẻ lung linh tuyệt đẹp, chúng còn giúp người đeo gặp nhiều may mắn.

Nếu công việc của bạn phải sử dụng máy vi tính nhiều thì tần số dao động bên trong của viên đá quý còn có thể hấp thu những từ trường xấu phát ra xung quanh bạn, bảo vệ sức khỏe của bạn khỏi tác động của những ác từ trong môi trường.

Cách lựa chọn đá quý theo ngày sinh:

– Ma kết – Capricorn (23/12-20/1): đá Garnet( đá ngọc hồng lựu), đá thạch anh hồng, đá thạch anh ám khói, đá ruby, đá cẩm thạch, là loại đá của sức sống và nghị lực, tượng trưng cho tình yêu chân thật, tin cậy và bất tận.

Đá Garnet sẽ mang lại may mắn trong tình yêu, tình bạn và ngăn chặn kẻ thù tấn công bạn. Màu sắc: đỏ thắm.

Ma kết – Capricorn (23/12-20/1): Garnet, thạch anh hồng, thạch anh ám khói, ruby, đá cẩm thạch

– Bảo Bình – Aquarius (21/1-19/2): Đá mã não, đá thạch anh tím, đá cẩm thạch, đá ngọc lam, đá ngọc lục bảo, đá mặt trăng
Amethyst (Thạch anh tím): Biểu tượng của sự khôn ngoan, sức mạnh và tự tin. Đây là một trong những loại đá tốt nhất cho những ai ở trong tình trạng căng thẳng, dễ bị nổi cáu hay bị chứng đau nửa đầu. Amethyst mang đến sự hài hòa và thanh thản trong tâm hồn. Màu sắc: hoa cà, tím.

Bảo Bình – Aquarius (21/1-19/2): Đá mã não, thạch anh tím, đá cẩm thạch, ngọc lam, ngọc lục bảo, đá mặt trăng…

– Song Ngư – Pisces (20/2-20/3): đá Thạch anh tím, đá mặt trăng, đá ngọc lục bảo, đá mắt mèo…
Aquamarine (Ngọc xanh biển) là biểu tượng của sự hòa bình và yên tĩnh. Người ta tin rằng loại đá này sẽ mang đến sự dễ chịu cho các cặp vợ chồng. Sức mạnh của nó có thể giúp người chồng hay người vợ bày tỏ quan điểm, ý kiến riêng của mình dễ dàng hơn. Nếu mơ về Aquamarine thì có nghĩa là bạn sắp gặp những người bạn mới. Màu sắc: xanh biển hơi ngả xanh lá hay xanh biển.

Song Ngư – Pisces (20/2-20/3): Thạch anh tím, đá mặt trăng, ngọc lục bảo, đá mắt mèo

– Bạch Dương – Aries (21/3-20/4): đá Thạch anh trắng, đá ruby, kim cương…
Diamond (Kim cương): biểu tương của tình yêu vĩnh cửu, sự hoàn hảo, tinh khiết và ngây thơ. Viên đá này gắn kết sức mạnh và sự may mắn. Khi đeo nó bên mình, bạn sẽ có một giấc ngủ yên bình, không mộng mị. Màu sắc: trắng, xám đen, vàng nhạt, hơi đỏ, hơi xanh lá hay không màu.

Bạch Dương – Aries (21/3-20/4): Thạch anh trắng, ruby, kim cương

– Kim Ngưu – Taurus (21/4-21/5): đá Thạch anh hồng, đá ngọc bích, đá sapphire, emerald…
Emerald (Ngọc lục bảo): Biểu tượng của sự phát triển và tốt đẹp, là loại ngọc làm tăng tính sáng tạo và nhận thức. Nó đóng vai trò như một loại thuốc an thần tự nhiên, giúp bạn vơi đi sự lo lắng khi gặp vấn đề khó khăn. Emerald tượng trưng cho sự thanh bình, hạnh phúc và thành công trong tình yêu. Màu sắc: xanh hơi ngả vàng, xanh lá.

Kim Ngưu – Taurus (21/4-21/5): Thạch anh hồng, ngọc bích, đá sapphire, emerald

– Song Tử – Gemini (22/5-21/6): đá Cẩm thạch đen, đá citrine, đá mắt hổ, đá mặt trăng, đá thạch anh trắng, ngọc trai…
Pearl (Ngọc trai): Biểu tượng cho sự thuần khiết, trong trắng và Aphrodite – nữ thần tình yêu trong thần thoại Hy Lạp. Ở một số nước nó còn tượng trưng cho thành công, tình yêu và hạnh phúc. Ngọc trai được dùng như một món quà cưới. Ngoài ra nó giúp người sở hữu có thể hiểu được chính mình. Màu sắc: trắng, nâu, đen, bạc, kem hay hồng.

Song Tử – Gemini (22/5-21/6): Cẩm thạch đen, citrine, đá mắt hổ, đá mặt trăng, thạch anh trắng, ngọc trai

– Cự Giải – Cancer (22/6-22/7): Đá mặt trăng, đá ruby và ngọc bích.
Đá Ruby (Hồng ngọc): Là một trong những loại đá hoàn hảo nhất, đá Ruby tượng trưng cho mặt trời, quyền lực, tự do, may mắn và vui vẻ. Nếu đeo gần tim thì viên đá này sẽ giúp cho tình yêu của bạn thêm mặn nồng. Ngoài ra nó còn giúp lưu thông máu và giúp ngủ ngon. Màu sắc: đỏ hồng đến đỏ tím.

Cự Giải – Cancer (22/6-22/7): Đá mặt trăng, ruby và ngọc bích

– Sư Tử-Leo (23/7-21/8): Đá mắt hổ, đá peridot, đá mã não, đá thạch anh trắng
Đá Peridot: Là loại đá tượng trưng cho lòng nhiệt tình, khoan dung, tiếng tăm, phẩm giá và bảo vệ. Đá Peridot giúp cân bằng cảm xúc và chữa lành vết thương tình cảm trong quá khứ. Màu sắc: xanh lá, xanh hơi ngả sang vàng, xanh ô liu.

Sư Tử-Leo (23/7-21/8): Đá mắt hổ, peridot, đá mã não, thạch anh trắng

– Xử Nữ – Virgo (22/8-23/9): Ngọc sapphire, đá mã não, đá ngọc xanh da trời.
Đá Sapphire: Là loại đá của vận mệnh, biểu tượng cho niềm tin và sự hào hiệp. Nó đem lại cho bạn những điều tốt lành nhất và biến nhưng giấc mơ thành sự thật. Viên đá mang đến sự may mắn trong tình yêu. Ngoài ra, đá sapphire còn đại diện cho lòng trung thành và niềm hy vọng. Màu sắc: xanh, hồng, tím, vàng, cam…

Xử Nữ – Virgo (22/8-23/9): đá sapphire, đá mã não, ngọc xanh da trời

– Thiên Xứng – Libra (24/9-23/10): Đá mắt mèo, đá ngọc bích, đá sapphire
Đá Opal (Ngọc mắt mèo): Là nữ hoàng của các loại đá quý. Mỗi viên đá Opal có một nét đẹp tinh tế khác nhau, rực rỡ và óng ánh sắc màu. Đá Opal là biểu tượng cho hy vọng, hành động tích cực và sự thành đạt. Màu sắc: có nhiều màu, đặc biệt là màu đỏ phát ra ánh lửa.

Thiên Xứng – Libra (24/9-23/10): Đá mắt mèo, đá ngọc bích, đá sapphire

– Hổ Cáp – Scorpio (24/10-22/11): đá Citrine (Thạch anh vàng), đá thạch anh trắng đục (trắng sữa), đá topaz…
Đá Yellow Topaz (đá Topaz vàng): Được đánh giá là có khả năng chữa bệnh rất tốt. Nó giúp bạn điều tiết cơn giận, giảm stress. Loại đá này chủ yếu dành cho những người bị chứng mất ngủ. Đá Yellow Topaz mang đến sự ấm áp cho cuộc sống của bạn. Màu sắc: vàng, vàng cam và hồng cam.

Hổ Cáp – Scorpio (24/10-22/11): Citrine (Thạch anh vàng), thạch anh trắng đục (trắng sữa), topaz

– Nhân Mã – Sagittarius (23/11-22/12): Đá Ngọc lam, đá thạch anh trắng đục (trắng sữa), topaz.
Turquoise (Ngọc lam): giúp bạn khởi đầu những dự án mới. Người xưa cho rằng khi loại đá này ngả sang màu khác thì đó là sự cảnh báo cho nguy hiểm hay bệnh tật. Đá Turquoise mang đến niềm vui, hạnh phúc và sự may mắn. Màu sắc: xanh da trời, xanh lá.

Nhân Mã – Sagittarius (23/11-22/12): Ngọc lam, thạch anh trắng đục (trắng sữa), topaz

theo daquyonline.

Pha Lê

Pha Lê chế tác hình lâu đài

Pha lê là một dạng thủy tinh silicat kali có trộn thêm một lượng ôxít chì II (PbO) và có thể là cả ôxít bari (BaO) khi người ta sản xuất nó. Ôxít chì được thêm vào thủy tinh nóng chảy làm cho thủy tinh có chiết suất cao hơn và như vậy độ tán sắc ánh sáng cũng cao hơn so với thủy tinh thông thường, nghĩa là trông nó lấp lánh hơn. Sự có mặt của chì cũng làm cho thủy tinh mềm và dễ cắt hơn. Pha lê là các mặt hàng được sản xuất từ thủy tinh chứa chì này. Thủy tinh pha lê thường chứa từ 12-28% chì, nhưng có thể chứa tới 33% chì. Tại hàm lượng này nó tạo ra độ lấp lánh cao nhất. Hàm lượng chì cao hơn làm cho thủy tinh khó tạo ra các tính chất của pha lê khi thổi. Việc pha thêm ôxít bari chỉ có tác dụng làm tăng chiết suất của thủy tinh.

Các loại màu pha lê

Một người Anh là George Ravenscroft được coi là đã phát minh ra pha lê vào năm 1676, mặc dù việc pha thêm chì vào thủy tinh đã có từ thời tiền sử tại Ai Cập và Lưỡng Hà.

Vòng tay làm từ pha lê hồng

Các nhà sản xuất đồ pha lê nổi tiếng bao gồm Baccarat tại Pháp, Royal Leerdam Crystal của Hà Lan, Steuben Glass tại Hoa Kỳ, Waterford Crystal tại Ireland và Swarovski tại Áo.

Trước thế kỷ 20, mò ngọc trai là cách phổ biến nhất để thu hoạch ngọc trai. Các thợ lặn thường bắtsò/trai từ đáy biển hoặc đáy sông và kiểm tra từng con một để tìm ngọc. Không phải tất cả sò/trai tự nhiên đều tạo ra ngọc. Thông thường một mẻ 3 tấn trai/sò chỉ tìm được 3 hoặc 4 con có viên ngọc hoàn hảo. Việc mò ngọc ở Việt Nam được nhắc đến nhiều trong sử sách, có lẽ nổi tiếng nhất được nêu trong tuyên ngôn độc lập Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi, trong đó Nguyễn Trãi đã tố cáo việc quân xâm lược nhà Minh đã bóc lột dân Việt Nam bằng việc bị buộc phải xuống biển mò ngọc trai để cống nộp cho nhà Minh.

Tuy nhiên, ngày nay hầu như tất cả ngọc trai trang sức là ngọc trai nuôi. Thông thường vật lạ cấy vào con sò/trai là mảnh vỏ con trai được đánh bóng cùng với một mảnh nhỏ mô của con trai khác vào cơ quan sinh dục của con trai để làm xúc tác tạo ngọc. Những con sò ngọc ở Biển Nam và Tahiti thường sống sót qua lần khai thác ngọc đầu tiên và được cấy nhân to hơn và được thả lại xuống nước thêm 2-3 năm nữa. Phương pháp sản xuất ngọc nuôi Mikimoto được phát triển bởi một nhóm các nhà khoa học thuộc Đại học Tokyo giữa năm 1907-1916 và công nghệ nuôi cấy này không được Mikimoto lấy bản quyền. Nhóm nghiên cứu do Nishikawa và Tátuhei Mise lãnh đạo. Nishikawa được cấp bản quyền công nghệ năm 1916 và cưới con gái của Mikimoto. Mikimoto đã có thể sử dụng công nghệ này sau khi bản quyền hết hạn vào năm 1935. Sau khi bản quyền được cấp năm 1916, em trai của Tatsuhei là người đầu sản xuất lứa ngọc trai thương mại đầu tiên trên loại trai Akoya. Mitsubishi ngay lập tức áp dụng công nghệ này đối với loại trai Nam Hải năm 1917 ở Philippines, và sau đó ở Buton và Palau. Mitsubishi là người đầu tiên sản xuất ngọc trai nuôi ở Biển Nam mặc dù đến năm 1931 lứa ngọc trai thương mại đầu tiên mới được sản xuất thành công. Công nghệ này được áp dụng cho sản xuất thương mại cho loại ngọc đen Tahiti thập niên 1970.

ngọc trai tự nhiên màu vàng

Ngọc trai (Hán-Việt: 珍珠, trân châu) là một vật hình cầu, cứng được một số loài vật tạo ra, chủ yếu là loài thân mềm (nhuyễn thể) như con trai. Ngọc trai được sử dụng làm đồ trang sức và cũng được tán thành bột để dùng trong mỹ phẩm. Ngọc trai được đánh giá là một loại đá quý và được nuôi và thu hoạch để làm đồ trang sức. Ngành Đông y cho rằng trân châu có vị hơi ngọt tính bình vào được kinh tâm can thận, có tác dụng phối hợp chữa kinh phong, an thần, giải độc, tan màn mây ở mắt, trở ngại tuần hoàn nước mắt, ù tai, xây xẩm…

ngọc trai tự nhiên

Đặc điểm tự nhiên:

Độ bóng của ngọc trai phụ thuộc vào độ phản xạ và độ khúc xạ ánh sáng từ những lớp trong mờ và độ đẹp của hạt ngọc tỷ lệ thuận với độ dày và nhiều của lớp trong mờ này. Sự phát tán ngũ sắc mà một số loại ngọc tạo ra là do sự chồng lấn lên nhau của các lớp liên tục nhau làm tán xạ ánh sáng chiếu vào bề mặt. Ngọc trai thường có màu trắng, đôi khi có màu kem hoặc phớt hồng và có thể nhuốm màu vàng, xanh lá cây, nâu, tím hoặc đen.

Ngọc trai nước ngọt và nước mặn:

Ngọc trai gồm hai loại: trai sống ở nước ngọt và trai sống ở nước biển. Ngọc trai nước ngọt được loài trai sống ở hồ, sông và những nơi nước ngọt khác tạo ra. Phần lớn ngọc trai nuôi nước ngọt ngày nay được Trung Quốc sản xuất. Ngược lại, ngọc trai nước mặn được những con điệp, hàu bao sống ở các vịnh biển tạo ra. Akoya, Tahiti, Nam Hải là ba loại ngọc trai nước mặn chủ yếu. Ở Việt Nam, ngọc trai được nuôi cấy ở đảo Cô Tô (Quảng Ninh), Nha Trang (Khánh Hòa), Phú Quốc…

ngọc trai nước cẩn của Trung Quốc

Ngọc trai nuôi và ngọc trai tự nhiên khác nhau ở cách tạo ngọc một cách tự nhiên hay có sự can thiệp của con người:

Ngọc trai tự nhiên:

Thành phần ngọc trai tự nhiên chủ yếu là xà cừ. Người ta cho rằng ngọc trai tự nhiên tạo ra do những điều kiện tình cờ khi có một vật lạ nhỏ bên ngoài hoặc hạt cát chui vào bên trong con sò, trai và nằm luôn trong đó. Bị kích thích bởi vật lạ này, con trai tạo ra một lớp xà cừ bao bọc lấy hạt cát xâm nhập đó. Quá trình này lặp đi lặp lại nhiều năm và tạo ra viên ngọc. Ngọc trai tự nhiên có giá trị là loại đồ trang sức quý hiếm. Giá trị thực của ngọc trai tự nhiên tương đương với đá quý và phụ thuộc vào kích cỡ, hình dạng và chất lượng của hạt ngọc. Ngọc trai tự nhiên đang trở nên ngày càng hiếm hơn do người ta bắt trai và sò để nuôi. Do đó, cơ hội để mò ra ngọc tự nhiên ngày càng hiếm hoi. Phần lớn những viên ngọc tự nhiên được bán cho những nhà sưu tập và hiếm khi được dùng làm đồ trang sức như dây chuyền.

Ngọc trai nuôi:

Ngọc trai nuôi (ngọc trai có nhân và không nhân hay có nhân mô) và ngọc nhân tạo có thể phân biệt được với ngọc tự nhiên bằng cách kiểm tra X quang. Nhân của hạt ngọc nuôi được tạo ra bởi con người và viên ngọc có hình dáng của nhân mà người ta cấy vào. Sau khi viên hạt được người ta cấy vào, con trai, sò sẽ tạo ra một vài lớp xà cừ trên bề mặt viên hạt này trước khi nó được lấy ra 6 tháng sau đó. Khi được kiểm tra bằng X quang, nhân của hạt ngọc nuôi sẽ lộ ra một cấu trúc khác với cấu trúc của ngọc tự nhiên. Nhân của viên ngọc nuôi sẽ lộ ra một tâm đặc không có các vòng đồng tâm chồng lên nhau trong khi nhân của ngọc trai tự nhiên gồm có các vòng xuyến chồng lên nhau. Một viên ngọc tự nhiên có tâm xà cừ đặc hoặc 100% trân châu. Ngọc tự nhiên cũng có hình dạng tự nhiên, kiểu viên hình tròn hiếm khi thấy.

Ngọc trai đen, thướng gọi là ngọc trai đen Tahiti, được đánh giá cao vì chúng hiếm thấy. Việc sản xuất ngọc đen bằng nuôi cấy mang lại sản lượng thấp hơn và không thể sản xuất hàng loạt do loại sò, trai này có sức khỏe kém, khó sống sót và con sò, trai thường đào thải vật lạ chui vào tự nhiên hay do con người cấy vào. Trước khi có trai ngọc nuôi, ngọc trai đen hiếm hoi và được định giá rất cao với lý do đơn giản là con sò/trai ít khi tạo ra ngọc đen cũng như do loại sò/trai này hiếm khi tạo ngọc.

vệ sinh Hàu bao- Hào cho ngọc trai vàng

-Ngọc trai đen quý hiếm hơn ngọc trai nước ngọt Trung Quốc cũng như ngọc trai Akoya của Nhật Bản và Trung Quốc vì thế cũng có giá trị cao hơn. Tuy nhiên ngọc trai Nam Hải còn hiếm và có giá trị cao hơn cả ngọc trai đen. Điều này đơn giản là do loài trai Pinctada margaritifera tạo ngọc đen có số lượng nhiều hơn so với loài trai Pinctada maxima tạo ngọc Nam Hải, loài này rất hiếm gặp ở các đầm phá mà thường phải lặn xuống một số ít vị trí ở tầng nước sâu. Ngọc trai đen được tạo từ loài trai Pinctada margaritifera không phải là loại ngọc trai Nam Hải mặc dù chúng thường bị mô tả nhầm lẫn là ngọc trai đen Nam Hải. Do chưa có một định nghĩa chính thức về ngọc trai từ loài trai đen nên những loại ngọc trai này đều được xem là ngọc trai Tahiti đen. Định nghĩa chính xác của CIBJO và GIA về ngọc trai Nam Hải là loại ngọc trai được tạo ra từ loài trai tạo ngọc Pinctada maxima. Màu sắc của viên ngọc Nam Hải cũng chính là màu sắc của con trai Pinctada maxima mang viên ngọc đó, đó có thể là màu trắng, bạc, hồng, vàng, kem hay là một sự kết hợp ngẫu nhiên của những màu cơ bản này, bao gồm cả những sắc màu cầu vồng của lớp xà cừ trên chính lớp vỏ của con trai.

Viên ngọc trai lớn nhất từ trước đế này là từ Philippines vào năm 1934. Viên ngọc này nặng 14 lb (6,4 kg) khi nó được một người thợ lặn Hồi giáo Philippines vô danh tìm ra tại ngoài khơi của đảo Palawan. Sau này, một người tù trưởng Palawan đã tặng nó cho Wilbur Dowell Cobb năm 1936 làm quà tặng để trả ơn đã cứu sống con trai mình. Đầu tiên viên ngọc này được gọi là “Trân châu của Allah (Thượng Đế)” và tên chính thức của nó hiện nay là “Viên trân châu Lão Tử”. Theo định giá năm 2006, viên trân châu này có giá trị 61.850.000 USD.

Đồ trang sức:

Giá trị của ngọc trai về mặt trang sức được quyết định bởi sự kết hợp giữa độ lóng lánh, màu sắc, kích cỡ, vết tỳ bề mặt và độ cân đối phù hợp với loại ngọc đang được xem xét. Trong các yếu tố trên, độ lóng lánh của viên ngọc là yếu tố quan trọn nhất để đánh giá chất lượng cho trang sức. Nếu mọi yếu tố như nhau thì viên ngọc càng lớn càng quý. Viên nào to, tròn thì hiếm có và được định giá cao. Những viên ngọc có hình giọt nước mắt được sử dụng làm bông tai. Những viên có hình dạng không đồng đều được sử dụng trong chuỗi hạt.

Ngọc trai tự nhiên làm vòng cổ và chuổi vòng tay

Ngọc trai có 8 hình dạng cơ bản: tròn, nửa tròn, viên cúc, giọt, quả lê, oval, baroque và nhẫn. Viên tròn hoàn hảo hiếm nhất và đắt nhất và thường được sử dụng trong các chuỗi hạt hay dây hạt. Những viên hình hạt cúc áo có dạng gần tròn và cũng có thể được dùng làm chuỗi hạt nhưng thường được dùng làm bông tai và mặt đen của hạt ngọc bị che đi và trông nó có vẻ tròn hơn và lớn hơn.

Những viên hình giọt nước và quả lê được dùng làm bông tai đầu tua dây chuyền hoặc làm trung tâm của một chuỗi dây.

Thông thường đồ trang sức bằng ngọc tự nhiên quý hơn nhiều ngọc nuôi.


Tháng 1: Đá Garnet – Đá Ngọc hồng lựu.

Đá Granat đủ các màu.

Nghe tên gọi bạn sẽ nghĩ đến loại ngọc màu đỏ? Không chỉ vậy, Garnet có đủ loại màu sắc, chỉ thiếu màu xanh dương. Ngoài ra còn đủ hình dáng, phù hợp với thị hiếu. Người sinh tháng một đeo đúng loại ngọc bên mình, ngọc sẽ dẫn đường trong đêm tối, soi sáng chủ nhân hơn hẳn người khác. Người Ai cập cho rằng, Garnet là thuốc giải những vết rắn cắn và ngộ độc thức ăn.  Đây là viên đá kỉ niệm 2 năm ngày cưới.

Tháng 2: Đá Amethyst – Đá Thạch anh tím.

Đá thạch anh tím từ nhạt đến đậm

Có rất nhiều loại tím của loại ngọc này: từ tím el lệ, đinh hương tím nhạt đến mạnh mẻ tím ngả sang đen. Đẹp nhất là tìm trầm ánh hồng. Người sinh tháng 2 mang đúng ngọc sẽ giúp chủ nhân luôn sáng suốt, không phải “say rượu ” cũng như “say tình “, an toàn thoát khỏi sự lừa dối, phản bội. Đây còn là loại thần dược chữa bệnh hói đầu, làm đẹp da.  Viên đá kỉ niệm 6 năm ngày cưới.

Tháng 3: Đá Aquamarine – Đá Ngọc xanh biển

Đá Aquamarine xanh biển

Có màu xanh tươi sáng của biển. Ngọc trợ giúp những ai lên đenh trên biển, là món quá quý giá của những cư dân lênh đênh trên biển, thủy thủ hay người đi biển. Nằm mơ thấy ngọc cho thấy phải kết bạn mới. Ngoài kiến thức và tầm nhìn, người sinh tháng 3 mang ngọc xanh biển còn có đựoc tình yêu, sự trìu mến.  Viên đá kỉ niệm 19 năm ngày cưới.

Tháng 4: Đá Diamond – Đá Kim cương:

Đá kim cương thô màu trắng có đường kính 3cm nặng 196 carat mới được tìm thấy tại mỏ Letseng ở vương quốc Lesotho thuộc miền nam châu Phi.

Loại đá cứng nhất với thần chất cacbon. Mảnh vụn của các ngôi sao, nước mắt của các vị thần, hay ảnh chớp kết tinh đều là những hình ảnh ẩn dụ chỉ kim cương. Thời xưa, chỉ có vua mới đựơc đeo kim cương, biểu tượng của sức mạnh, lòng can đảm và sự bất khuất. Qua nhiều thế kỉ nó trở thành món quả tối thượng của tình yêu. Kỉ niệm 10 năm và 60 năm ngày cưới.

Tháng 5: Đá Emerald – Đá Ngọc Lục bảo.

Đá Emerald( Đá ngọc lục bảo) thô

Là nữ hoàng các loại đá và là viên đá của các nữ hoàng. Quý nhất là màu xanh thuần khiết hoặc xanh lá hơi ngả xanh dương, như cả một khu vườn tươi mát. Ngọc lục báo giúp cho thị lực và trí tuệ luôn sâu sắc. Đi đường dài, chúng bảo vệ chủ nhân khỏi hiểm họa. Người mang viên ngọc xanh còn có thể dự đoán tương lai dó có trực giác tốt. Viên đá kỉ niểm 20 và 35 năm ngày cưới.

Tháng 6: Ngọc trai.

Đá ngọc trai

Là sản phẩm hình thành khi trai biển tiết dịch bao lấy một vật thể lạ xâm nhập. Có hiều màu từ hồng trắng đến đen. Ngoài hình tròn phổ biến còn có hình bán cầu, hình giọt nước. Ngọc trai phương đồng được ví như viên đá của mặt trăng, biểu tượng của tính khiêm tốn, sự trong trắng và thuần khiết. Chúng còn là hình ảnh của một cuộc hôn nhân bền vững, hạnh phúc.

Tháng 7: Đá Ruby – Đá Hồng ngọc.

Đá ruby-Đá Hồng Ngọc

Đá ruby-Đá Hồng Ngọc

Như tên gọi, là một loại đá có sắc đỏ thắm. Hồng ngọc là loại đá bền và có độ cứng chỉ sau kim cương. Những viên hồng ngọc lớn rất hiểm và đắt gấp 2-3 lần viên kim cương cùng cỡ. Lấp lánh như ánh sáng của sao hỏa, hồng ngọc có thể chữa lành bệnh thật và giảng hòa cho các đôi tình nhân đang có chiến tranh. Viên đá kỉ niệm 15 năm và 40 năm ngày cưới.

Tháng 8: Đá Peridot.

Đá Peridot tự nhiên

Vẫn được ví như ” Ngọc lục bảo chiều tà “. Vì dưới ánh đèn, viên đá lấp lánh sắc xanh ngọc lục bảo. Peridot chính hiệu trong suốt, có nhiều màu, từ xanh vàng đến xanh sáng. Tượng trưng cho tài hùng biện, thuyết phục, peridot đựoc coi là bùa hộ mệnh và là thần dược chữa viêm xoang. Nếu cẩn trong vàng,con xua tan nổi sợ bóng đêm. Viên đá kỉ niệm 16 năm ngày cưới.
Tháng 9: Đá Sapphire

Đá Saphire thô

Có đủ các màu. Phổ biến nhất là có màu xanh đập. Đặc biết, đá Sapphire không có màu đỏ. Loại đá này cũng rất cứng. Các cặp vợ chồng ngày xưa có một niềm tin mãnh liệt vào loại đá này. Họ tin rằng,những người có tâm địa độc ái khi đeo đá Sapphire sẽ không lấp lánh.
Viên đá kỉ niệm 5 và 45 năm ngày cưới.
Tháng 10: Đá Opal – Đá Ngọc mắt mèo.

Đá Opal tinh thể

Có hơn một tá loại đá Opal rực lỡ, óng ánh, thay đổi sắc màu dưới những ánh sáng khác nhau. Loại phổ biến nhất có thân màu trắng nhấp nháy nhiều sắc màu của lửa. Tựong trưng cho sự hy vọng, sự ngây thơ. Thời Trung cổ, những cô gái tóc vàng cài đá Opal để giữ màu tóc. Còn các nhà văng cho rằng nó giúp chủ nhân trở nên vô hình khi cần.  Viên đá kỉ niệm 14 năm ngày cưới.

Tháng 11: Đá Citrine

Đá Citrine-Đá thạch anh vàng

Tên gọi bắt nguồn từ một loại trái cây giống chanh. Đây là một tập hợp thạch anh có màu sắc vàng nhạt đến nâu vàng. Thịnh hành nhất là màu vàng,cam bắt mắt.Người xưa dùng Citrine để phòng ngừa dịch bệnh, xấu xa, những ý nghĩ tội lỗi. Nó còn đựoc dùng để chữa vết rắn cắn và nọc của các loài bò sát khác. Viên đá kỉ niệm 13 năm ngày cưới.

Tháng 12: Đá Topaz

Đá Topaz xanh dương

Topaz theo tiếng Hy Lạp nghĩa là tỏa sáng, mang nhiều màu sắc từ không màu đến vàng cam, đỏ, nâu mật, xanh lá… Nhưng chỉ có đá Topaz xanh dương là tượng trưng cho người sinh tháng 12. Không chỉ đem lại sức mạnh, đá Topaz còn có thể hạ hỏa người nộ khí, khôi phục sự khôn ngoan, chữa lành suyễn, giảm mất ngủ, thậm chỉ các nhà thần học cho rằng, nó có thể giúp chủ nhân biến mất lúc nguy cấp.Viên đá kỉ niệm 4 năm ngày cưới.


Đá Sapphire là loại đá của vận mệnh, biểu tượng cho niềm tin và sự hào hiệp. Nó đem lại cho bạn những điều tốt lành nhất và biến nhưng giấc mơ thành sự thật. Viên đá mang đến sự may mắn trong tình yêu. Ngoài ra Sapphire còn đại diện cho lòng trung thành và niềm hy vọng. Màu sắc: xanh, hồng, tím, vàng, đỏ, cam…

Đá Sapphire đủ màu

Có đủ các màu. Phổ biến nhất là có màu xanh dương đậm. Đặc biết, đá Sapphire không có màu đỏ nhưng nhiều người thích màu đỏ nên đã gia nhiệt đá sapphire màu khác để tạo thành đá sapphire màu đỏ mà vẫn giữ nguyên giá trị cao quý của nó. Loại đá sapphire rất cứng, các cặp vợ chồng ngày xưa có một niềm tin mãnh liệt vào loại đá này, họ tin rằng những người có tâm địa độc ác khi đeo đá Sapphire sẽ không lấp lánh.

Đá Sapphire Vân Sao

Sapphire trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là xanh dương. Màu xanh đi từ xanh dương đậm gần như là xanh đen cho đến xanh dương nhạt. Những viên sapphire tốt là những viên có màu xanh càng đậm.Sapphire sao là lọai rất có giá trị. Có cả sapphire hồng, tím, xanh lá, vàng và trắng. Sapphire là viên đá mang đến quyền lực, tình yêu, giúp cho tinh thần con người luôn minh mẫn sáng suốt.

Những viên màu xanh đậm hoặc xanh đen là biểu tượng của sao thổ. Những viên xanh nhạt là biểu tượng của sao kim.

Đá Sapphiare dành cho người có cung hoàng đạo Nhân Mã từ 23/11- 21/12.

Đá Emerald là một loại đá quý được xếp vào nhóm I chỉ đứng sau kim cương, ruby và saphia. Emerald tên tiếng Việt là emơrôt hay còn gọi là lục ngọc hay lục bảo ngọc. Với màu xanh lục tinh khiết lục bảo ngọc được coi là đại diện của mùa xuân và từ lâu người ta xem lục bảo ngọc là biểu tượng của tình yêu và sự tái sinh. Lục bảo ngọc đại diện cho những ai sinh vào tháng 5, truyền thuyết kể rằng ai sở hữu nó sẽ có tài hùng biện, trí thông minh và tình yêu mãnh liệt.

Đá Ererald_Đá Ngọc Lục Bảo

Nhờ có màu lục mạnh là màu của mùa xuân nên từ lâu người ta xem lục bảo ngọc là biểu tượng của tình yêu và sự tái sinh. Nhiều nhà cai trị khác nhau như nữ hoàng Ai Cập Cleopatra, vua Ấn Độ Shah Jahan và các vua Tây Ban Nha xem emerald là báu vật nên nó đã trở thành một loại tiền tệ quốc tế trong hàng nghàn năm qua.

– Xác ướp Ai Cập xưa được chôn cùng với lục bảo ngọc đeo trên cổ để chứng tỏ tuổi trẻ bất diệt. Lục bảo ngọc là loại đá quý được Cleopatra ưa thích. Các Mogul (vua chúa Hồi giáo cổ từ thế kỷ 16 đến 19) ở Ấn Độ, trong đó có Shah Jahan, người đã xây đền Taj Mahal, thích emerald đến nỗi mà họ hay khắc lời kinh lên chúng và đeo như là bùa chú. Một số đá quý linh thiêng này, được gọi là lục bảo ngọc Mogul, ngày nay vẫn còn thấy chúng trong các bảo tàng và các bộ sưu tập.

Đá Emerald-Đá Ngọc Lục Bảo thô

Người Incas (cư dân cổ sống vùng cao nguyên Nam châu Mỹ trước khi bị Tây Ban Nha chinh phục) có một nữ thần lục bảo ngọc, đó là một viên lục bảo ngọchuyền thoại to bằng một trứng đà điểu. Ở Mỹ, lục bảo ngọc là đá mừng sinh nhật trong tháng 5.

Chất lượng, Giá trị và Tính phổ biến:

– Lục bảo ngọc giá trị nhất khi có màu lục mạnh sáng của cỏ mùa xuân sau cơn mưa. Vì lục bảo ngọc ở Columbia đã được xem là chuẩn mực bao thế kỷ nay cho nên loại màu lục thuần khiết, như thấy ở Columbia, thường được ưa chuộng hơn là màu lục hơi xanh sẫm của lục bảo ngọc tại Phi châu. Lục bảo ngọc hiếm và trị giá cao. Với những viên màu đẹp nhỏ hơn 5 carat thì lục bảo ngọc có thể sẽ cao giá hơn ruby hay saphia.
– Vì lục bảo ngọc không tạp chất thường hiếm cho nên người ta chấp nhận lục bảo ngọc có một số tạp chất nhất định và chúng không làm giảm giá trị viên đá. Tuy nhiên khi mua, bạn không nên chọn những viên nào có khe nứt hay tạp chất phân bố quá sâu vào bên trong viên đá, vì chúng sẽ làm cho viên đá yếu đi và dễ bị nứt, bể khi vô tình va chạm mạnh.
– Lục bảo ngọc thường được cắt mài theo kiểu hình chữ nhật, giác tầng mà mọi người hay gọi là kiểu lục bảo ngọc. Các viên đá nhỏ thì lại được mài theo dạng tròn, ovan, giọt nước, hạt dưa. Nhờ màu đậm nên lục bảo ngọc cũng rất đẹp khi được mài theo dạng cabochon.

Đá Emerald- Đá Ngọc Lục Bảo đang chế tác

Nguồn gốc:

Columbia là nguồn lục bảo ngọc nổi tiếng nhất và cũng là quốc gia khai thác quan trọng nhất.
– Lục bảo ngọc từ Brazin thì thường có kích thước lớn nhưng màu lục thì lại nhạt hơn màu lý tưởng.
– Lục bảo ngọc ở Zambia thì lại có màu lục phớt xanh sẫm và có độ sạch rất cao.
– Lục bảo ngọc gốc Zimbabwe có màu đẹp và độ sạch khá cao nhưng kích thước thường nhỏ hơn 1 carat.
– Lục bảo ngọc ở Afghanistan và Madagasca có màu đẹp nhưng khai thác còn hạn chế.
– Lục bảo ngọc là loại đá quý cứng chắc, có độ cứng đạt 7,5 đến 8 trên thang Mohs. Tuy nhiên vì có nhiều tạp chất nên xử lý phải hết sức cẩn thận và tránh những va chạm mạnh.
– Hiện tại Việt Nam chưa phát hiện được lục bảo ngọc, nhưng các dấu hiệu địa chất ở một số vùng có thể cho phép phát hiện lục bảo ngọc trong tương lai.
Phương pháp xử lý và tổng hợp:

– Lục bảo ngọc được tổng hợp trong công nghiệp chủ yếu bằng phương pháp nhiệt dịch và ít hơn là phương pháp chất trợ dung “flux”.

– Thông thường lục bảo ngọc thường chứa nhiều các bao thể, các khe nứt lấp đầy do vậy, các khe nứt phổ biến trong lục bảo ngọc và thường được lấp đầy bằng chất dầu hoặc thuỷ tinh màu để làm tăng độ tinh khiết. Cách xử lý này gọi là lấp đầy hoặc tẩm dầu khe nứt. Có thể cần tái lấp đầy lục bảo ngọc định kỳ để thay thế chất lấp đầy cũ đã bị biến đổi. Việc xử lý này được xem là không bền và có thể phát hiện được.

Bảo quản:
Bạn không nên rửa lục bảo ngọc bằng nước xà phòng nóng hoặc bằng hơi nước sôi và không bao giờ được rửa nó với máy siêu âm vì vật liệu lấp đầy có thể bị đẩy ra khỏi viên đá hoặc bị biến đổi, làm lộ ra các khe nứt. Chỉ nên rửa với nước nguội và dùng bàn chải chà nhẹ để lấy đi chất dơ dính phía sau viên đá.

Đá opal có các màu của những loại đá quý khác gộp lại. Nên có hiệu ứng lóe màu sặc sỡ, nó được tạo ra do nhiễu xạ bên trong đá: các cầu thể li ti nằm trong đá làm tách ánh sáng thành các màu phổ tán sắc ngời sáng, giống hệt hiện tượng màu sặc sỡ do các rãnh cực nhỏ trên các đĩa CD gây ra.

Đá Opal được biết đến từ rất lâu và ngày xưa chúng chủ yếu được sử dụng làm vật liệu trang trí trong các đền đài và cung điện, bên cạnh đó một khối lượng lớn được sử dụng làm đồ trang sức. Ngày nay đá opal được xem như một món đồ trang sức có giá trị cao, nhiều khi quý hơn cả kim cương và hồng ngọc. Đá Opal là biểu tượng của chòm sao Song ngư trong cung hoàng đạo.

Đá Opal màu đỏ

-Đá Opal nhiều khi đọng trong các suối nhiệt dịch và suối phun ở các khu vực núi lửa (tup silit, greyserit…), đôi khi thành những thạch nhũ trắng, trong suốt, có quang thái ngọc. Opal cũng thường liên quan tới các loại đá macma phun trào như ryolit, andezit và trachit trong đó opal thường được lắng đọng trong các lỗ hổng ở nhiệt độ thấp. Ở Úc thường gặp đá opan liên quan tới phun trào trachit và bazan, trong cát kết silic ở đó đá opal được tái lắng đọng. Ở Việt Nam đá Opal gặp chủ yếu là opal thường tại một số tỉnh Tây Nguyên. Chất lượng của loại đá opal này không thích hợp cho việc sản xuất hàng trang sức, chỉ để làm tranh đá quý.

-Đá Opal là một trong các đá mừng sinh nhật trong tháng 10 ở Mỹ.

Đá Opal ra làm 2 loại dựa vào đặc điểm của chúng là opan quý và opan thường:

Đá Opal quý:

Đặc trưng nổi bật của loại đá opal này là hiệu ứng lưỡng sắc opan (opalescence) tức là khi ta quan sát viên đá ở các hướng khác nhau sẽ thấy hiện tượng như cầu vồng xuất hiện trên bề mặt viên đá. Đá Opal quý được khai thác nhiều ở Úc, tại các vùng New South Wales và Queensland, một số khác cũng được khai thác ở Brasil, Nhật Bản…

Đá Opal thường:

Là loại đá opal khá phổ biến và không có các hiệu ứng màu như ở đá opal quý và chúng mang một số loại tên khác nhau trên thương trường như: agat, hyalit (không màu, trong), opal mật ong khi chúng có màu vàng mật ong, opan sữa (bán trong màu trắng, ánh ngọc), chrysopa (đục, xanh táo), …

Đá Opal có giá trị nhất khi có màu nền xám sẫm đến đen và được gọi là đá opal đen. Đá Opal có màu nền là trắng hay màu nhạt thì gọi là đá opal trắng, loại này có nhiều hơn và giá rẻ. Đá Opal từ trong mờ đến trong suốt được gọi là đá opal tinh thể, giá trị của nó ở giữa 2 loại trên.

Đá Opan màu vàng

Công dụng:

Người Hindu cho rằng, đá opan có thể giúp cho trẻ e mau lớn. Các nhà thạch học trị liệu hiện đại cho rằng, đá opal phát triển trực giác và có ảnh hưởng tốt tới hệ thần kinh, tuyến yên và đầu xương, và opan điều hòa tất cả các chức năng của cơ thể và bảo vệ chống bệnh nhiễm khuẩn.

Nhờ có sự phong phú về màu sắc mà từ thời cổ đá opal đã là biểu tượng của sự thất thường, tượng chưng cho số phận hay thay đổi, nó làm cho trực giác trở nên tinh nhạy và giúp tạo ra cảm hứng. Ở Phương Đông, nhất là Ấn Độ, opal từ lâu đã được coi là đá của tình yêu, sự tin tưởng và lòng chắc ẩn. Bằng ánh lấp lánh trên bề mặt viên đá opal soi sáng trí tuệ, xua đuổi những ý nghĩ u tối và sợ hãi. Khi nhìn vào đá opal những thầy pháp Ấn Độ hồi tưởng những hóa thân của mình trước kia. Đá Opal là biểu tượng của hạnh phúc, hy vọng và tình yêu trìu mến dịu dàng.

Bảo quản và làm sạch:

Đá Opal có độ cứng 6 trên thang Mohs, mềm hơn nhiều loại đá quý khác, do đó nên giữ gìn cẩn thận để tránh bị làm trầy xước bởi những nữ trang khác. Nếu để đá rơi, phần nào lộ ra sẽ dễ bị bể. Không được để opal tiếp xúc với nhiệt hay axit. Rửa đá opal với xà phòng: dùng bàn chải chà phía sau viên đá nơi có thể dính nhiều chất dơ.

Theo Rongvanglab

Powered by WordPress & Web Design Company
[ Back to top ]